2017

Nhiều vấn đề khác nhau có thể dẫn đến mất thính giác tạm thời, điều quan trọng là bạn phải tìm ra nguyên nhân gây ra và điều trị đúng. 

Cách duy nhất để biết chắc là tổn thất của bạn có thể  chữa được  hay không là liên lạc với trung tâm trợ thính để được đánh giá kỹ lưỡng.

Các nguyên nhân gây điếc tạm thời

Điếc do tiếng ồn: cơ chế tinh tế của tai trong của bạn rất nhạy cảm với tiếng ồn lớn - cụ thể, tiếng ồn lớn hơn 85 decibel. Nếu bạn ngồi quá gần với  các loa tại buổi hòa nhạc hoặc không đeo nút  tai khi bắn  súng, bạn sẽ có nguy cơ làm hỏng thính giác của mình. Mất thính giác do nó gây ra có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn tùy thuộc vào mức độ tiếng ồn và khoảng cách gần tai của bạn…

Ống tai ngoài bị bít: có cái gì đó ngăn cản ống tai của bạn, nó sẽ cản trở khả năng nghe của bạn. Nếu tai bạn cảm thấy bị nghẹt, có thể do quá nhiều ráy tai, sưng do nhiễm trùng tai hoặc dịch trong khoang  tai giữa.

Thuốc gây ngộ độc tai: một số loại thuốc độc hại đối với tai và có thể gây điếc  tạm thời. Hãy chắc chắn kiểm tra với bác sĩ của bạn và nói chuyện với dược sĩ của bạn về bất kỳ mối quan tâm bạn  cho là có thể có liên quan đến thuốc bạn đang dùng.

Hãy đi khám bác sĩ

Mặc dù bạn có thể muốn tin rằng vấn đề thính giác của bạn là tạm thời, nhưng chỉ có chuyên gia y tế được đào tạo  mới có thể xác định được điều đó, vì vậy điều đầu tiên bạn cần làm là hẹn khám bệnh chuyên khoa về thính giác. Họ sẽ  đánh giá toàn bộ  hệ thống  thính giác cho  bạn để xác định nguyên nhân gây  mất thính lực của bạn .

Tại buổi đánh giá, nhân viên chăm sóc sức khỏe thính giác của bạn sẽ hỏi bạn một số câu hỏi liên quan đến tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn và các vấn đề về thính giác. Điều này sẽ giúp họ xác định liệu có bất kỳ điều gì trong quá khứ của bạn  gây ra  các  vấn đề sức khỏe đang diễn ra hay không.

Điều trị điếc tạm thời như thế nào?

Sau đó, bạn sẽ được kiểm tra tai  xem có  bất kỳ các dấu hiệu bất thường trước khi  kiểm tra thính giác đơn giản cho bạn  để tiến gần tới  bản chất  tình trạng của bạn. Một số tình trạng có thể  cần làm thêm  các  thử nghiệm nâng cao, do đó bạn có thể cần phải lên kế hoạch cho một cuộc hẹn tiếp theo hoặc khám bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng .

Điều trị điếc tạm thời như thế  nào? 

Hãy cho tai bạn được nghỉ ngơi:

Lần tiếp theo bạn nhận thấy tai đang ù khi bạn đang dự một buổi hòa nhạc với bạn bè, hãy tránh khỏi tiếng ồn bằng cách đi ra hành lang hoặc vào nhà vệ sinh trong vài phút. Hãy giảm âm lượng radio trên ô tô và tivi.

Trong trường hợp ráy tai quá nhiều và đóng bánh, tốt nhất nên để một chuyên gia lấy nó ra

Bảo vệ thính giác của bạn khỏi bị hư hại thêm bằng cách mang đồ bảo vệ tai. Nếu bạn biết bạn sẽ tham dự một buổi hòa nhạc âm thanh lớn hoặc buổi bắn pháo hoa, hãy đeo nút tai hoặc chụp tai. Nếu sở thích của bạn bao gồm sử dụng các thiết bị  tiếng ồn lớn như xe máy, xe trượt tuyết hoặc súng ống, hãy mang thiết bị bảo vệ trợ thính.

Giải quyết  các tắc nghẽn:

Nếu mất thính giác do tắc nghẽn ống tai, thính giác của bạn sẽ trở lại bình thường sau khi  giải quyết tắc nghẽn. Các loại gây tắc nghẽn bao gồm:

Ráy tai: với hầu hết thời gian ráy tai là tốt. Công việc của nó là bẫy bụi và các hạt nhỏ khác ngăn chúng đến màng nhĩ. Theo nguyên tắc chung, ráy tai rơi ra khỏi ống tai của bạn một cách tự nhiên. Trong trường hợp  ráy tai quá nhiều và đóng bánh, tốt nhất nên để một chuyên gia lấy nó ra.

Nhiễm trùng tai: mặc dù hầu hết các viêm nhiễm do nhiễm trùng đều tự khỏi  và nghe thậm chí  trở lại bình thường, hãy gặp bác sĩ nếu bạn bị đau hoặc chảy nước từ tai bị tắc nghẽn, hoặc nếu đau tai kèm với sốt cao, cổ cứng hoặc đau đầu nhiều.

Đi bơi: nếu gần đây bạn bơi  và bị ngứa, đau hoặc cảm giác đầy trong tai, bạn có thể có  bị “tai của người bơi” (swimmer’s ear). Nhiễm trùng ống tai ngoài  này của bạn thường xảy ra khi nước vẫn còn trong tai của bạn sau khi bạn  bơi. Nó cũng có thể là do vết trầy hay xước trong ống tai gây ra do sử dụng  que bông, kẹp tóc hoặc ngón tay để làm sạch ống tai. Khi tình trạng này được điều trị đúng bởi một chuyên gia y tế, thính giác của bạn thường trở lại bình thường.

Theo SKDS

Là một bệnh lý độc lập nhưng TCBP lại là yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, gây nên nhiều bệnh như: tim mạch, đái tháo đường, sỏi mật, cơ xương khớp và ung thư... Do TCBP liên quan đến nhiều bệnh lý quan trọng như vậy nên người ta coi vấn đề TCBP là chóp của tảng băng các bệnh mạn tính không lây.

TCBP gây rối loạn chuyển hóa lipid máu (còn gọi là rối loạn mỡ máu)

Thường thấy rối loạn mỡ máu ở hầu hết các bệnh nhân TCBP. Với lượng mỡ trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa mạch máu và dần dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác của cơ thể. Khi động mạch vành bị hẹp sẽ làm giảm dòng máu tới nuôi tim gây ra đau thắt ngực, thậm chí nhồi máu cơ tim có thể gây đột tử. Người TCBP có nguy cơ cao mắc bệnh mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác.

Bệnh béo phì gây rối loạn chuyển hóa lipid máu, còn gọi là rối loạn mỡ máu.

Như vậy, giữ vóc dáng, hạn chế TCBP sẽ tránh được rối loạn mỡ máu, tránh được các biến chứng tim mạch nguy hiểm như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim... Tránh được các biến chứng khác do bệnh vữa xơ động mạch gây ra như tai biến mạch máu não, hẹp động mạch ngoại vi. Ngoài ra còn giúp tăng cường chất lượng cuộc sống, giảm chi phí điều trị vì chi phí cho các tai biến mạch máu não rất tốn kém.

TCBP và nguy cơ bị tăng huyết áp

Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng. Người TCBP có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn bình thường, nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ và thời gian càng kéo dài. Tăng huyết áp vừa là nguyên nhân gây đột quỵ chảy máu não, vừa là nguy cơ gây đột quỵ thiếu máu não. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim, về lâu dài tăng huyết áp có thể ảnh hưởng đến thị lực. Ngay cả chức năng thận cũng bị ảnh hưởng do tăng huyết áp. Thận là một trong những bộ phận đóng vai trò giữ cho huyết áp của cơ thể được bình thường, nó điều tiết các chất dịch của cơ thể, muối... từ đó điều chỉnh huyết áp. Nhưng ngược lại, bệnh tăng huyết áp lại gây hư hại các mạch máu trong thận làm quả thận mất chức năng lọc, làm hẹp động mạch thận, từ đó gây suy thận. Bên cạnh đó, vì tăng huyết áp, tất cả các mạch máu nuôi cơ thể đều bị ảnh hưởng; các mạch máu ở tứ chi có thể thu hẹp dẫn đến một bệnh lý gọi là bệnh động mạch ngoại biên ảnh hưởng đến việc lưu thông máu ở chân và gây ra chứng chuột rút.

TCBP gây thoái hoá khớp

TCBP thường mắc bệnh xương khớp sớm và bệnh thường nặng hơn khi trọng lượng cơ thể tăng. Người bị TCBP có nguy cơ bị thoái hóa khớp gối cao gấp 6 lần so với người bình thường. Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng nếu giảm 5kg trong 10 năm thì nguy cơ thoái hóa khớp gối sẽ giảm 50%.

TCBP gây ra nhiều tác động xấu đến bệnh cơ xương khớp. Do biểu hiện đặc trưng của bệnh là đau nhức nên các thuốc chống viêm, giảm đau khi dùng để điều trị kích thích các bệnh lý khác phát triển, gây trở ngại trong điều trị. Vì vậy kiểm soát cân nặng để đẩy lùi TCBP không những giúp phòng ngừa bệnh tật mà còn là chìa khóa bảo vệ sức khỏe.

TCBP gây bệnh sỏi mật

TCBP làm tăng nguy cơ bị bệnh sỏi mật gấp 3-4 lần. Để giảm nguy cơ sỏi mật cần có một chế độ ăn uống cân bằng; thường xuyên tập thể dục. Người ít vận động, ngồi nhiều, có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật. TCBP làm tăng tổng hợp 20mg cholesterol/ngày/kg mỡ thừa. Tình trạng đó làm tăng bài tiết mật, tăng mức bão hòa cholesterol trong mật, chức năng của túi mật giảm dẫn tới bệnh sỏi mật.

Tuy vậy, đối với người TCBP khi muốn giảm cân thì cần giảm cân từ từ, nếu giảm cân nhanh chóng cũng có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật.

Do đó, ăn uống hợp lý và cân bằng, tăng cường hoạt động thể lực, phòng tránh dư thừa trọng lượng cơ thể là biện pháp rất quan trọng để giảm nguy cơ gây nên bệnh sỏi mật.

TCBP gây rối loạn đường huyết

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng lượng insulin để làm giảm đường huyết ở người béo phì thấp hơn người bình thường và đó chính là nguyên nhân tại sao người bị đái tháo đường phần lớn là người béo phì.

Có mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin và béo phì. Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin tăng liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm.

Bệnh đái tháo đường làm gia tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ, tổn thương thần kinh dẫn đến đau và tê ở bàn tay và bàn chân, suy giảm chức năng thận và bệnh về mắt.

TCBP gây bệnh ung thư

Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, ung thư có liên quan tới khả năng miễn dịch của cơ thể. Khi chức năng miễn dịch của tế bào giảm thì cơ thể dễ bị các loại u ác tính. Bất kể nguyên nhân gây ra u ác tính là gì, chỉ cần trong cơ thể xuất hiện tế bào biến chứng ung thư thì màng tế bào lập tức sinh ra kháng nguyên đặc biệt, còn tế bào miễn dịch trong cơ thể sẽ diệt các tế bào có kháng nguyên ung thư này. Khi chức năng miễn dịch của tế bào giảm, khả năng tự bảo vệ của cơ thể yếu thì tế bào ung thư sẽ sinh sôi.

Mặt khác, người béo phì đều mắc chứng cholesterol trong máu cao và insulin trong máu cao, khiến lượng cholesterol trong tế bào miễn dịch tăng cao, giảm khả năng diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch trong cơ thể.

Để giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh ung thư cũng như các bệnh khác do béo phì, các bác sĩ khuyến cáo mỗi người nên kiểm soát cân nặng của mình với một chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh, cân bằng, kết hợp với vận động hợp lý để nâng cao sức khỏe cũng như phòng tránh các căn bệnh nguy hiểm do TCBP gây nên.

Theo SKDS

Huyết khối tĩnh mạch não là hiện tượng hình thành các cục máu đông trong các tĩnh mạch và xoang tĩnh mạch của não, chiếm gần 1% tổng số những trường hợp đột quỵ.

Do vậy, việc chẩn đoán sớm huyết khối tĩnh mạch não khi bệnh nhân vào viện có ý nghĩa rất lớn đối với việc cấp cứu, điều trị, thậm chí cứu sống tính mạng bệnh nhân.

Nguyên nhân thường gặp

Một số yếu tố thường gặp là do di truyền và mắc phải thúc đẩy huyết khối tĩnh mạch não đã được ghi nhận. Tuy nhiên, nguyên nhân huyết khối tĩnh mạch não vẫn không xác định được. Cần phân biệt giữa các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng.

Nguyên nhân nhiễm trùng: nhiễm trùng ổ mắt, xoang chũm, tai giữa, mặt và viêm màng não là hay gặp nhất. Thường gặp ở bệnh nhân viêm tai và viêm xoang chũm. Huyết khối tĩnh mạch não xoang hang gần như liên quan với nhiễm trùng các xoang cạnh mũi hoặc ổ mắt. Các nguyên nhân nhiễm trùng ngày nay ít gặp hơn.

Huyết khối tĩnh mạch não không liên quan nhiễm trùng: phổ biến nhất là ung thư, rối loạn tăng sinh tủy, mất nước và thuốc ngừa thai, các rối loạn đông cầm máu (tình trạng tăng đông di truyền hoặc mắc phải), bệnh tạo keo, mang thai và chu sinh. Ở phụ nữ trẻ, huyết khối tĩnh mạch não thường gặp ở chu sinh hơn là lúc mang thai; Các nguyên nhân cơ học như: chấn thương đầu, chọc dò tủy sống cũng có biến chứng huyết khối tĩnh mạch não. Tuy nhiên, khoảng 20-35% bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não vẫn chưa rõ nguyên nhân.

Hình ảnh chụp MRI ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.

Hình ảnh chụp MRI ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.

Huyết khối tĩnh mạch não có điều trị được không?

Là bệnh lý mạch máu não nghiêm trọng nhưng có thể điều trị được. Mặc dù ít gặp hơn so với đột quỵ tắc động mạch nhưng huyết khối tĩnh mạch não là nhóm nguyên nhân quan trọng phải luôn luôn nghĩ đến, đặc biệt ở bệnh nhân là phụ nữ mang thai, hậu sản hoặc các tình trạng tăng đông. Hiện sự cải thiện về nhận thức huyết khối tĩnh mạch não và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh học não đã thay đổi về tần suất huyết khối tĩnh mạch não.

Biểu hiện lâm sàng

Thường nhất là các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khu trú. Phụ nữ mang thai, hậu sản hay bệnh nhân có bệnh lý tăng đông phải được nghĩ đến chẩn đoán khi có dấu hiệu thần kinh. Các triệu chứng hai bên bán cầu, co giật, nhức đầu, phù gai hay các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ khác được nghi ngờ chẩn đoán. Một vài trường hợp với hội chứng giả u não với nguyên nhân là huyết khối tĩnh mạch não.

Hình ảnh trên CT scan sọ não: tăng đậm đồ vùng xoang tĩnh mạch hoặc tĩnh mạch vỏ có huyết khối. Vùng nhồi máu tĩnh mạch trên phim CTscan là vùng giảm đậm độ, phù, xuất huyết ở kế cận xoang tĩnh mạch, như cạnh đường giữa với xoang dọc trên, thùy thái dương với xoang ngang. Các vùng nhồi máu này vượt qua các giới hạn điển hình do các nhánh động mạch chi phối là dấu hiệu quan trọng gợi ý nguyên nhân tắc tĩnh mạch; Hình ảnh trên MRI: các tín hiệu có thể phù hợp với huyết khối giai đoạn cấp (đồng tín hiệu trên T1, giảm tín hiệu trên T2) hoặc bán cấp cũng như các đặc trưng của nhồi máu tĩnh mạch, thường có hình ảnh chuyển dạng xuất huyết.

Các dạng đột quỵ não đường động mạch; u não; viêm xoang; viêm não; viêm não màng não; tổn thương não do chấn thương; sản giật; bệnh não chất trắng phần sau có hồi phục... Trong mọi trường hợp cần nghĩ đến chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não trong chẩn đoán phân biệt thì mới có thể đi đến chẩn đoán xác định.

Bệnh nhân cần theo dõi và tái khám

Đây là nhóm bệnh nhân cần thiết theo dõi sát tình trạng đông cầm máu, cần theo dõi tại các cơ sở có thể kiểm tra INR và có kinh nghiệm điều trị kháng đông. Thời gian đầu có thể theo dõi mỗi tuần, sau đó có thể mỗi tháng khi ổn định hơn đảm bảo hiệu quả điều trị kháng đông. Cần kiểm tra CTscan hoặc MRI khi có các triệu chứng hoặc dấu hiệu tái phát hoặc biến chứng do thuốc kháng đông.

Theo SKDS

Lối sống hiện đại và sự thay đổi về chế độ ăn là nguyên nhân quan trọng dẫn đến gia tăng thừa cân béo phì (TCBP).

Là một bệnh lý độc lập nhưng TCBP lại là yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, gây nên nhiều bệnh như: tim mạch, đái tháo đường, sỏi mật, cơ xương khớp và ung thư... Do TCBP liên quan đến nhiều bệnh lý quan trọng như vậy nên người ta coi vấn đề TCBP là chóp của tảng băng các bệnh mạn tính không lây.

TCBP gây rối loạn chuyển hóa lipid máu (còn gọi là rối loạn mỡ máu)

Thường thấy rối loạn mỡ máu ở hầu hết các bệnh nhân TCBP. Với lượng mỡ trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa mạch máu và dần dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác của cơ thể. Khi động mạch vành bị hẹp sẽ làm giảm dòng máu tới nuôi tim gây ra đau thắt ngực, thậm chí nhồi máu cơ tim có thể gây đột tử. Người TCBP có nguy cơ cao mắc bệnh mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác.

Bệnh béo phì gây rối loạn chuyển hóa lipid máu, còn gọi là rối loạn mỡ máu.

Như vậy, giữ vóc dáng, hạn chế TCBP sẽ tránh được rối loạn mỡ máu, tránh được các biến chứng tim mạch nguy hiểm như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim... Tránh được các biến chứng khác do bệnh vữa xơ động mạch gây ra như tai biến mạch máu não, hẹp động mạch ngoại vi. Ngoài ra còn giúp tăng cường chất lượng cuộc sống, giảm chi phí điều trị vì chi phí cho các tai biến mạch máu não rất tốn kém.

TCBP và nguy cơ bị tăng huyết áp

Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng. Người TCBP có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn bình thường, nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ và thời gian càng kéo dài. Tăng huyết áp vừa là nguyên nhân gây đột quỵ chảy máu não, vừa là nguy cơ gây đột quỵ thiếu máu não. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim, về lâu dài tăng huyết áp có thể ảnh hưởng đến thị lực. Ngay cả chức năng thận cũng bị ảnh hưởng do tăng huyết áp. Thận là một trong những bộ phận đóng vai trò giữ cho huyết áp của cơ thể được bình thường, nó điều tiết các chất dịch của cơ thể, muối... từ đó điều chỉnh huyết áp. Nhưng ngược lại, bệnh tăng huyết áp lại gây hư hại các mạch máu trong thận làm quả thận mất chức năng lọc, làm hẹp động mạch thận, từ đó gây suy thận. Bên cạnh đó, vì tăng huyết áp, tất cả các mạch máu nuôi cơ thể đều bị ảnh hưởng; các mạch máu ở tứ chi có thể thu hẹp dẫn đến một bệnh lý gọi là bệnh động mạch ngoại biên ảnh hưởng đến việc lưu thông máu ở chân và gây ra chứng chuột rút.

TCBP gây thoái hoá khớp

TCBP thường mắc bệnh xương khớp sớm và bệnh thường nặng hơn khi trọng lượng cơ thể tăng. Người bị TCBP có nguy cơ bị thoái hóa khớp gối cao gấp 6 lần so với người bình thường. Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng nếu giảm 5kg trong 10 năm thì nguy cơ thoái hóa khớp gối sẽ giảm 50%.

TCBP gây ra nhiều tác động xấu đến bệnh cơ xương khớp. Do biểu hiện đặc trưng của bệnh là đau nhức nên các thuốc chống viêm, giảm đau khi dùng để điều trị kích thích các bệnh lý khác phát triển, gây trở ngại trong điều trị. Vì vậy kiểm soát cân nặng để đẩy lùi TCBP không những giúp phòng ngừa bệnh tật mà còn là chìa khóa bảo vệ sức khỏe.

TCBP gây bệnh sỏi mật

TCBP làm tăng nguy cơ bị bệnh sỏi mật gấp 3-4 lần. Để giảm nguy cơ sỏi mật cần có một chế độ ăn uống cân bằng; thường xuyên tập thể dục. Người ít vận động, ngồi nhiều, có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật. TCBP làm tăng tổng hợp 20mg cholesterol/ngày/kg mỡ thừa. Tình trạng đó làm tăng bài tiết mật, tăng mức bão hòa cholesterol trong mật, chức năng của túi mật giảm dẫn tới bệnh sỏi mật.

Tuy vậy, đối với người TCBP khi muốn giảm cân thì cần giảm cân từ từ, nếu giảm cân nhanh chóng cũng có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật.

Do đó, ăn uống hợp lý và cân bằng, tăng cường hoạt động thể lực, phòng tránh dư thừa trọng lượng cơ thể là biện pháp rất quan trọng để giảm nguy cơ gây nên bệnh sỏi mật.

TCBP gây rối loạn đường huyết

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng lượng insulin để làm giảm đường huyết ở người béo phì thấp hơn người bình thường và đó chính là nguyên nhân tại sao người bị đái tháo đường phần lớn là người béo phì.

Có mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin và béo phì. Nguy cơ đái tháo đường không phụ thuộc insulin tăng liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm.

Bệnh đái tháo đường làm gia tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ, tổn thương thần kinh dẫn đến đau và tê ở bàn tay và bàn chân, suy giảm chức năng thận và bệnh về mắt.

TCBP gây bệnh ung thư

Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, ung thư có liên quan tới khả năng miễn dịch của cơ thể. Khi chức năng miễn dịch của tế bào giảm thì cơ thể dễ bị các loại u ác tính. Bất kể nguyên nhân gây ra u ác tính là gì, chỉ cần trong cơ thể xuất hiện tế bào biến chứng ung thư thì màng tế bào lập tức sinh ra kháng nguyên đặc biệt, còn tế bào miễn dịch trong cơ thể sẽ diệt các tế bào có kháng nguyên ung thư này. Khi chức năng miễn dịch của tế bào giảm, khả năng tự bảo vệ của cơ thể yếu thì tế bào ung thư sẽ sinh sôi.

Mặt khác, người béo phì đều mắc chứng cholesterol trong máu cao và insulin trong máu cao, khiến lượng cholesterol trong tế bào miễn dịch tăng cao, giảm khả năng diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch trong cơ thể.

Để giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh ung thư cũng như các bệnh khác do béo phì, các bác sĩ khuyến cáo mỗi người nên kiểm soát cân nặng của mình với một chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh, cân bằng, kết hợp với vận động hợp lý để nâng cao sức khỏe cũng như phòng tránh các căn bệnh nguy hiểm do TCBP gây nên.

Theo SKDS

Sự lão hóa trong cơ thể người cao tuổi được ghi nhận với những thay đổi toàn bộ các tổ chức, cơ quan, bộ máy của cơ thể gồm hệ thần kinh, hệ tim mạch, hệ tiết niệu, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp và hệ nội tiết.

Lão hóa hệ thần kinh

Hệ thần kinh có chức năng chỉ huy, điều hòa mọi hoạt động của cơ thể. Về mặt giải phẫu, khối lượng não bộ giảm dần trong quá trình lão hóa, chúng chỉ còn khoảng 1.180g ở nam và 1.060g ở nữ lúc 85 tuổi so với trọng lượng 1.400g đến 1.260g lúc 20 - 25 tuổi. Về mặt sinh lý, biến đổi thường gặp nhất là giảm khả năng thụ cảm như: giảm thị thực, thính lực, khứu giác, vị giác, xúc giác; các cấu trúc tiếp nối thần kinh cũng giảm tính linh hoạt trong sự dẫn truyền xung động; hậu quả là phản xạ vô điều kiện tiến triển chậm hơn, yếu hơn; hoạt động của thần kinh cao cấp có những biến đổi trong các quá trình cơ bản, giảm ức chế rồi giảm hưng phấn; sự cân bằng giữa hai quá trình này kém đi dẫn đến rối loạn, hình thành phản xạ có điều kiện; thực tế thường gặp trạng thái cường giao cảm, rối loạn giấc ngủ với giấc ngủ không sâu, ban ngày dễ ngủ gà ngủ gật.

Về mặt tâm lý, nhiều người sống lâu, có sức khỏe bình thường, vẫn giữ được một phong thái hoạt động thần kinh cao cấp như lúc còn trẻ; khi sức khỏe không ổn định, tâm lý và tư duy thường có những biến đổi và mức độ của những biến đổi này tùy thuốc vào quá trình hoạt động cũ, thể trạng chung và thái độ của những người ở chung quanh; trong các biến đổi đó có hai đặc tính chung là sự giảm tốc độ và giảm tính linh hoạt; dễ có sự đậm nét hóa về tính tình cũ, giảm quan tâm đến những người chung quanh và tình hình thế sự, ít hướng về cái mới mà thường quay về với đời sống nội tâm; trí nhớ và kiến thức chung về nghiệp vụ vẫn khá tốt nhưng thường giảm sức ghi nhớ những việc mới xảy ra, những vấn đề trừu tượng.

Thích nghi với những cái “lão” của tuổi già

Lão hóa hệ tim mạch

Đối với tim, nếu không có bệnh lý gì đi kèm theo thì khi cao tuổi khối lượng nặng của cơ tim thường giảm, hệ tuần hoàn nuôi tim cũng giảm hiệu lực làm ảnh hưởng đến vấn đề dinh dưỡng của cơ tim. Sự biến đổi ở tim bên trái rõ hơn tim bên phải, nhịp tim thường chậm hơn lúc còn trẻ do tình trạng giảm tính linh hoạt của xoang tim. Lúc tuổi tăng cao đã có hiện tượng suy giảm tim tiềm tàng, giảm dẫn truyền trong tim, việc cung cấp khối lượng máu cho các cơ quan đặc biệt là cho tim và não bị giảm dần.

Đối với mạch máu, các động mạch nhỏ ngoại biên có đường kính hẹp lại làm giảm cung cấp khối lượng máu đến các mô tế bào, làm tăng sức cản, hậu quả là tim phải tăng sức bóp, tiêu hao nhiều năng lượng hơn và thường tăng khoảng 20% so với lúc còn trẻ. Tình trạng xơ cứng động mạch chủ cũng rất phổ biến. Tĩnh mạch giảm trương lực và độ đàn hồi, do đó dễ giãn ra. Tuần hoàn mao mạch giảm hiệu lực do mất một số mao mạch, đồng thời tính phản ứng của số còn lại cũng giảm.

Đến khoảng 70 - 80 tuổi, số nephron là đơn vị cấu tạo và chức năng cơ bản của thận còn hoạt động sẽ giảm khoảng 1/3 hoặc 1/2 so với lúc mới sinh

Đối với thành phần sinh hóa của máu, chúng thường có liên quan đến hệ tim mạch. Khi tuổi đã cao, nhóm bêta lipoprotein tăng, đồng thời nhóm alpha lipoprotein giảm. Hoạt tính của men lipase phân hủy lipoprotein giảm dần. Lượng lipide toàn phần, triglycerid, axít béo không este hóa, cholesterol trong máu đều tăng. Khi ăn mỡ, máu tăng đông, hệ thống tiêu fibrin không tăng theo, các tiểu cầu dễ kết dính vào nhau. Nếu có tình trạng tăng huyết áp thì các đặc điểm nêu trên lại càng biểu hiện rõ.

Đối với huyết áp, ở những người khỏe mạnh bình thường khi tuổi đã cao thì huyết áp động mạch có tăng theo nhưng không vượt quá giới hạn. Thường huyết áp tối đa tăng đến 29mmHg và huyết áp tối thiểu tăng đến 8,6mmHg so với lúc còn trẻ, tuy nhiên nếu huyết áp tối đa vượt quá 160mmHg và huyết áp tối thiểu vượt quá 95mmHg thì không còn là hiện tượng sinh lý bình thường nữa.

Lão hóa hệ tiết niệu

Thận là một trong những cơ quan chủ yếu bảo đảm sự thanh lọc các chất cặn bã khỏi cơ thể. Hoạt động của thận là cơ sở thực hiện nhiều chỉ tiêu ổn định môi trường bên trong của cơ thể.

Về phương diện hình thái học, thực tế những biểu hiện lão hóa xuất hiện sớm ở thận do bắt đầu từ tuổi 20 đã thấy những biến đổi ở các động mạch nhỏ và trung bình của thận. Từ 30 tuổi trở lên, lưới động mạch nhỏ ở vi cầu thận co rút lại, cuối cùng làm biến mất một số vi cầu thận và làm teo các ống thận có liên quan. Đến khoảng 70 - 80 tuổi, số nephron là đơn vị cấu tạo và chức năng cơ bản của thận còn hoạt động sẽ giảm khoảng 1/3 hoặc 1/2 so với lúc mới sinh. Những nephron mất đi được thay thế bằng mô liên kết, đó là hiện tượng xơ hóa thận của tuổi cao.

Về phương diện chức năng, mức lọc của vi cầu thận giảm dần. Ở người 95 tuổi, mức lọc của vi cầu thận chỉ bằng 59,7% so với lúc 20 tuổi. Sức cản của thận qua các mạch máu tăng dần theo tuổi như ở người 95 tuổi sẽ tăng gấp 3 lần so với lúc 20 tuổi. Hệ thanh thải urê cũng giảm theo tuổi như ở người 95 tuổi chỉ bằng gần 1/3 lúc 20 tuổi. Mặc dù có các mặt giảm thiểu nêu trên nhưng ở những người cao tuổi khỏe mạnh, không có hiện tượng tích lũy các chất đạm cặn bã trong máu nhờ đồng thời có sự giảm thiểu mức chuyển hóa trong cơ thể người cao tuổi, do đó có thể duy trì được tính ổn định của môi trường bên trong cơ thể. Tuy nhiên nếu có sự thay đổi đột xuất trong điều kiện sống, sự giảm thiểu hoạt động của thận dễ biến thành suy thận; đặc điểm này cần được lưu ý khi dùng thuốc điều trị có độc tính cao.

Lão hóa hệ tiêu hóa

Đối với ống tiêu hóa, chủ yếu của sự biến đổi là giảm khối lượng, có hiện tượng thu teo nhưng ở mức độ nhẹ. Sự suy yếu các cơ thành bụng và các dây chằng dẫn đến trạng thái sa nội tạng. Đáng chú ý là sự giảm hoạt lực của các cơ cấu tiết dịch tiêu hóa, không những số lượng các dịch giảm mà hoạt tính của các men tiêu hóa cũng kém; thực tế có khoảng 1/3 số người cao tuổi có tình trạng không có axít chlorhydric trong dịch vị. Nhu động của dạ dày và ruột cũng giảm theo tuổi, khả năng tiêu hóa hấp thu ở ruột giảm. Trong điều kiện ăn uống bình thường phù hợp với lứa tuổi, sự giảm thiểu chức năng tiêu hóa có tính chất kín đáo và tiềm tàng; tuy nhiên khi phải chịu đựng một gánh nặng quá mức thì dễ dẫn đến sự rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến vấn đề dinh dưỡng.

Đối với gan, sự biến đổi được ghi nhận là giảm khối lượng, gan chỉ còn khoảng 930 - 980g lúc 75 tuổi so với 1.430g lúc 40 tuổi. Nhu mô gan có những chỗ teo lại, vỏ mô liên kết dày thêm, mật độ gan chắc hơn. Quá trình teo tế bào nhu mô gan đi đôi với quá trình thoái hóa mỡ. Trữ lượng các chất protid, kali, mức tiêu thụ oxy của tế bào gan đều giảm. Chức năng gan kém dần, nhất là việc chuyển hóa chất đạm, giảm độc, tái tạo. Hiện tượng giảm thiểu này chưa hẳn là tình trạng suy gan ở người bình thường; tuy vậy nếu có những tác nhân gây hại từ thuốc điều trị, thức ăn thì dễ có rối loạn chức năng do sự mất cân bằng ở tại gan.

Đối với túi mật và đường dẫn mật, cũng có sự biến đổi khi tuổi đã cao. Từ tuổi 40 đã ghi nhận tình trạng giảm độ đàn hồi của thành túi mật và ống dẫn mật, cơ túi mật đã bắt đầu teo lại, túi mật giãn ra. Do hiện tượng xơ hóa cơ vòng ống dẫn mật nên dễ có rối loạn điều hòa sự lưu thông của mật. Chính vì những biến đổi này nên bệnh lý ở túi mật và đường dẫn mật rất phổ biến ở người cao tuổi.

Lão hóa hệ hô hấp

Sự lão hóa hệ hô hấp chủ yếu được ghi nhân ở hệ hô hấp ngoài với biến đổi về hình thái học và chức năng.

Về phương diện hình thái học, hình dạng của lồng ngực biến đổi do nhiều yếu tố tác động như: sụn sườn bị vôi hóa, khớp sườn - xương sống co cứng, đốt sống đĩa đệm thoái hóa, cơ lưng dài teo làm hạn chế cử động. Tế bào biểu mô hình trụ phế quản dày và bong ra, tế bào biểu mô tiết dịch loạn dưỡng, chất nhầy giảm lượng và cô đặc. Lớp dưới biểu mô xơ hóa. Mô xơ quanh phế quản phát triển làm ống phế quản không đều, có chỗ hẹp chỗ phình. Hoạt động lông rung giảm. Nhu mô phổi giảm mức đàn hồi, các phế nang cũng bị giãn ra.

Về phương diện chức năng, dung tích phổi giảm kể cả dung tích sống, dung tích bổ sung thở ra và thở vào, tổng dung tích. Tuy nhiên dung tích khí cặn giảm ít hơn là dung tích sống, tỉ lệ dung tích cặn trên dung tích sống tăng phản ánh sự giảm thiểu của dung tích có ích. Tỉ lệ thể tích khí thở ra trong 1 giây trên dung tích sống là thể tích khí tối đa đo được sau khi hít vào gắng sức và thở ra gắng sức (VEMS/CV) giảm từ 75% xuống còn 50 - 60%. Thông khí tối đa giảm rõ rệt ở người cao tuổi phản ánh dự trữ hô hấp giảm nên thường hay bị khó thở, có tình trạng thiếu không khí. Khả năng hấp thu khí oxy vào máu động mạch ở người cao tuổi cũng kém hơn ở người còn trẻ nên ảnh hưởng đến sự cung cấp khí oxy cho mô tế bào, do đó ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan và hệ thống. Tình trạng thiếu oxy huyết là đặc điểm quan trọng của cơ thể người cao tuổi cần được lưu ý.

Lão hóa hệ nội tiết

Hoạt động của hệ nội tiết thường gắn liền với hoạt động của hệ thần kinh vì hoạt động nội tiết là một hoạt động thực hiện lệnh của thần kinh, đồng thời cũng có tác động ảnh hưởng trở lại đối với hệ thần kinh. Trong quá trình điều hòa mọi chức năng của cơ thể, thực tế có sự kết hợp chặt chẽ giữa thần kinh và nội tiết để hình thành một hệ thống điều hòa thần kinh nội tiết hoặc điều hòa thần kinh thể dịch. Biến đổi các tuyến nội tiết trong quá trình lão hóa là một sự biến đổi không đồng thì và đồng tốc; có nghĩa là không bị lão hóa cùng một lần với tốc độ như nhau. Bắt đầu sớm nhất là thoái triển tuyến ức, sau đó đến tuyến sinh dục rồi tuyến giáp trạng, cuối cùng là tuyến yên và tuyến thượng thận. Sự biến đổi này dễ nhận thấy nhất ở thời kỳ mãn sinh dục. Nếu thời kỳ này có sự tiến triển không bình thường thì rối loạn thần kinh nội tiết có thể có nhiều biểu hiện đa dạng, tạo điều kiện cho một số bệnh tật phát sinh và phát triển như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, loãng xương...

Ngoài ra, những sự biến đổi trong chức năng của các tuyến nội tiết cũng sẽ làm thay đổi tính chất những phản ứng thích nghi của cơ thể đối với các stress, thông thường xảy ra theo hướng cường giao cảm. Khi các stress tái diễn nhiều lần gần nhau sẽ làm cho cơ thể người cao tuổi mau bị suy kiệt.

Lời khuyên của thầy thuốc

Người cao tuổi thường có những biến đổi toàn bộ cơ thể từ hệ thận kinh, hệ tim mạch, hệ tiết niệu, hệ hô hấp cho đến hệ nội tiết... do quá trình lão hóa. Cần hiểu rằng cao tuổi không phải là bệnh lý nhưng tuổi cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các loại bệnh tật phát sinh và phát triển từ những sự biến đổi này. Vì vậy, việc chữa trị và phòng bệnh phải căn cứ vào những đặc điểm biến đổi cơ thể của người cao tuổi, tình trạng bệnh lý của từng đối tượng để xử trí can thiệp điều trị phù hợp, không được xem giống như cơ thể của người đang còn trẻ.

Theo SKDS

Do vậy, việc chẩn đoán sớm huyết khối tĩnh mạch não khi bệnh nhân vào viện có ý nghĩa rất lớn đối với việc cấp cứu, điều trị, thậm chí cứu sống tính mạng bệnh nhân.

Nguyên nhân thường gặp

Một số yếu tố thường gặp là do di truyền và mắc phải thúc đẩy huyết khối tĩnh mạch não đã được ghi nhận. Tuy nhiên, nguyên nhân huyết khối tĩnh mạch não vẫn không xác định được. Cần phân biệt giữa các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng.

Nguyên nhân nhiễm trùng: nhiễm trùng ổ mắt, xoang chũm, tai giữa, mặt và viêm màng não là hay gặp nhất. Thường gặp ở bệnh nhân viêm tai và viêm xoang chũm. Huyết khối tĩnh mạch não xoang hang gần như liên quan với nhiễm trùng các xoang cạnh mũi hoặc ổ mắt. Các nguyên nhân nhiễm trùng ngày nay ít gặp hơn.

Huyết khối tĩnh mạch não không liên quan nhiễm trùng: phổ biến nhất là ung thư, rối loạn tăng sinh tủy, mất nước và thuốc ngừa thai, các rối loạn đông cầm máu (tình trạng tăng đông di truyền hoặc mắc phải), bệnh tạo keo, mang thai và chu sinh. Ở phụ nữ trẻ, huyết khối tĩnh mạch não thường gặp ở chu sinh hơn là lúc mang thai; Các nguyên nhân cơ học như: chấn thương đầu, chọc dò tủy sống cũng có biến chứng huyết khối tĩnh mạch não. Tuy nhiên, khoảng 20-35% bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não vẫn chưa rõ nguyên nhân.

Hình ảnh chụp MRI ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.

Hình ảnh chụp MRI ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch não.

Huyết khối tĩnh mạch não có điều trị được không?

Là bệnh lý mạch máu não nghiêm trọng nhưng có thể điều trị được. Mặc dù ít gặp hơn so với đột quỵ tắc động mạch nhưng huyết khối tĩnh mạch não là nhóm nguyên nhân quan trọng phải luôn luôn nghĩ đến, đặc biệt ở bệnh nhân là phụ nữ mang thai, hậu sản hoặc các tình trạng tăng đông. Hiện sự cải thiện về nhận thức huyết khối tĩnh mạch não và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh học não đã thay đổi về tần suất huyết khối tĩnh mạch não.

Biểu hiện lâm sàng

Thường nhất là các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khu trú. Phụ nữ mang thai, hậu sản hay bệnh nhân có bệnh lý tăng đông phải được nghĩ đến chẩn đoán khi có dấu hiệu thần kinh. Các triệu chứng hai bên bán cầu, co giật, nhức đầu, phù gai hay các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ khác được nghi ngờ chẩn đoán. Một vài trường hợp với hội chứng giả u não với nguyên nhân là huyết khối tĩnh mạch não.

Hình ảnh trên CT scan sọ não: tăng đậm đồ vùng xoang tĩnh mạch hoặc tĩnh mạch vỏ có huyết khối. Vùng nhồi máu tĩnh mạch trên phim CTscan là vùng giảm đậm độ, phù, xuất huyết ở kế cận xoang tĩnh mạch, như cạnh đường giữa với xoang dọc trên, thùy thái dương với xoang ngang. Các vùng nhồi máu này vượt qua các giới hạn điển hình do các nhánh động mạch chi phối là dấu hiệu quan trọng gợi ý nguyên nhân tắc tĩnh mạch; Hình ảnh trên MRI: các tín hiệu có thể phù hợp với huyết khối giai đoạn cấp (đồng tín hiệu trên T1, giảm tín hiệu trên T2) hoặc bán cấp cũng như các đặc trưng của nhồi máu tĩnh mạch, thường có hình ảnh chuyển dạng xuất huyết.

Các dạng đột quỵ não đường động mạch; u não; viêm xoang; viêm não; viêm não màng não; tổn thương não do chấn thương; sản giật; bệnh não chất trắng phần sau có hồi phục... Trong mọi trường hợp cần nghĩ đến chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch não trong chẩn đoán phân biệt thì mới có thể đi đến chẩn đoán xác định.

Bệnh nhân cần theo dõi và tái khám

Đây là nhóm bệnh nhân cần thiết theo dõi sát tình trạng đông cầm máu, cần theo dõi tại các cơ sở có thể kiểm tra INR và có kinh nghiệm điều trị kháng đông. Thời gian đầu có thể theo dõi mỗi tuần, sau đó có thể mỗi tháng khi ổn định hơn đảm bảo hiệu quả điều trị kháng đông. Cần kiểm tra CTscan hoặc MRI khi có các triệu chứng hoặc dấu hiệu tái phát hoặc biến chứng do thuốc kháng đông.

Theo SKDS

Nhằm hạn chế những trẻ sinh ra bị dị tật, hiện nay, y học đã thực hiện nhiều phương pháp chẩn đoán trước sinh nhằm phát hiện một số bệnh lý, dị tật của thai nhi. Bài biết này cung cấp kiến thức về nguyên nhân nào ảnh hưởng đến một số bệnh, tật ở thai nhi và thực hiện chẩn đoán trước sinh để sinh con lành lặn, khỏe mạnh.

Yếu tố nào dẫn đến dị tật ở thai nhi và trẻ sơ sinh

Sự biến đổi tiêu cực của môi trường, khí hậu đã có nhiều ảnh hưởng đến sự sinh sản của con người. Hậu quả nặng nề của chất độc da cam trong thời kỳ chiến tranh đã để lại tình trạng bệnh, tật ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Hiện nay, bên cạnh một số bệnh nhiễm khuẩn phổ biến, một số bệnh, tật ở thai nhi và trẻ sơ sinh bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu sau: sai lệch di truyền (bất thường nhiễm sắc thể, rối loạn gene, rối loạn chuyển hóa...); trong quá trình mang thai, bà mẹ tiếp xúc môi trường độc hại (hóa chất, không khí, đất, nước...); mẹ dùng một số thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ; mẹ mắc các bệnh nhiễm trùng trong khi mang thai: giang mai, Rubella, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng sinh dục...

Vấn đề chẩn đoán trước sinh cho phép xác định hình thái, những bất thường về mặt cơ thể của thai nhi. Qua đó, tùy theo mức độ của từng trường hợp, các bác sĩ sẽ tiến hành khắc phục hoặc đưa ra lời khuyên cho gia đình nên giữ hay bỏ thai cũng như cách theo dõi và chăm sóc cho bé sau sinh.

Phụ nữ mang thai nên đi khám thai đều đặn để sinh con khỏe mạnh.

Phụ nữ mang thai nên đi khám thai đều đặn để sinh con khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán trước sinh

Siêu âm độ mờ da gáy: Siêu âm độ mờ da gáy được thực hiện từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ. Để biết chính xác tuổi thai, bác sĩ siêu âm sẽ đo thai nhi từ đỉnh đầu đến dưới cùng của cột sống (gọi là chiều dài đầu - mông). Rồi sau đó sẽ đo độ dày của da gáy. Làn da sẽ xuất hiện vạch có màu trắng và chất dịch dưới da sẽ xem xét bằng màu đen giữa 2 vạch màu trắng.

Siêu âm thông thường được thực hiện qua đường bụng, nhưng đôi khi nó được thực hiện qua ngả âm đạo vì sẽ cung cấp cho hình ảnh tốt hơn.

Độ dày của da gáy bình thường lúc thai được 11 tuần khoảng 2mm và lúc thai được gần 14 tuần là khoảng 2,9mm. Độ dày (mờ) da gáy > 4mm trẻ có nguy cơ bị hội chứng Down hoặc một số bệnh lý khác...

Cần lưu ý rằng, hội chứng Down ở trẻ dựa trên tuổi mẹ phối hợp với đo độ mờ da gáy thai 11 tuần đến gần 14 tuần, nếu da gáy dày nhưng nhiễm sắc thể bình thường (trẻ không bị hội chứng Down), trẻ vẫn có nguy cơ cao bị dị tật tim.

Xét nghiệm huyết thanh thai phụ: Bác sĩ sẽ lấy máu của thai phụ để xét nghiệm. Đây là một xét nghiệm tìm ba chất trong máu của thai phụ gồm có AFP (alpha-fetoprotein), beta-hCG toàn phần và uE3 (estriol không liên hợp). Kết quả này được tính toán cùng với cân nặng, chiều cao của thai phụ, tuổi thai… để phát hiện những nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể và dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Thời gian làm xét nghiệm tốt nhất từ tuần thứ 15 - 20, để đạt kết quả chính xác là tuần 16 - 18 trong thai kỳ. Phương pháp này cho phép phát hiện những bất thường về chức năng các bộ phận của cơ thể.

Phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi: Khảo sát và phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi qua nuôi cấy tế bào ối nhằm phát hiện những bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể, qua đó phát hiện sớm những bệnh liên quan đến nhiễm sắc thể như hội chứng Down, Turner...

Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi cho hiệu quả cao với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, tỷ lệ thành công cao hơn, giảm tỷ lệ thai bất thường ở những thai phụ lớn tuổi, tìm ra nguyên nhân thất bại nhiều lần của thụ tinh trong ống nghiệm, sẩy thai liên tiếp, thai bị dị tật, phát hiện nhiều bệnh di truyền theo giới tính, những bệnh lý liên quan đến số lượng nhiễm sắc thể, đơn gene…

Lời khuyên của thầy thuốc

Phụ nữ mang thai trên 35 tuổi, những sản phụ bị nhiễm bệnh 3 tháng đầu của thai kỳ, bệnh nội khoa, những cặp vợ chồng tiếp xúc với tia xạ, chất độc hóa học, sản phụ có tiền sử sinh con dị tật, thai lưu, sẩy thai liên tiếp, tiền sử gia đình có người bị bệnh di truyền, bệnh liên quan đến nhiễm sắc thể, khi siêu âm hoặc xét nghiệm máu có xét nghiệm bất thường về thai sản… thực hiện chẩn đoán trước sinh cần được các bác sĩ chuyên khoa tư vấn và theo dõi.

Theo SKDS

Khi trẻ sinh ra không may bị tật nguyền hoặc thiểu năng trí tuệ... không chỉ là sự thiệt thòi, nỗi đau cho trẻ mà còn là gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội.

Nhằm hạn chế những trẻ sinh ra bị dị tật, hiện nay, y học đã thực hiện nhiều phương pháp chẩn đoán trước sinh nhằm phát hiện một số bệnh lý, dị tật của thai nhi. Bài biết này cung cấp kiến thức về nguyên nhân nào ảnh hưởng đến một số bệnh, tật ở thai nhi và thực hiện chẩn đoán trước sinh để sinh con lành lặn, khỏe mạnh.

Yếu tố nào dẫn đến dị tật ở thai nhi và trẻ sơ sinh

Sự biến đổi tiêu cực của môi trường, khí hậu đã có nhiều ảnh hưởng đến sự sinh sản của con người. Hậu quả nặng nề của chất độc da cam trong thời kỳ chiến tranh đã để lại tình trạng bệnh, tật ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Hiện nay, bên cạnh một số bệnh nhiễm khuẩn phổ biến, một số bệnh, tật ở thai nhi và trẻ sơ sinh bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu sau: sai lệch di truyền (bất thường nhiễm sắc thể, rối loạn gene, rối loạn chuyển hóa...); trong quá trình mang thai, bà mẹ tiếp xúc môi trường độc hại (hóa chất, không khí, đất, nước...); mẹ dùng một số thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ; mẹ mắc các bệnh nhiễm trùng trong khi mang thai: giang mai, Rubella, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng sinh dục...

Vấn đề chẩn đoán trước sinh cho phép xác định hình thái, những bất thường về mặt cơ thể của thai nhi. Qua đó, tùy theo mức độ của từng trường hợp, các bác sĩ sẽ tiến hành khắc phục hoặc đưa ra lời khuyên cho gia đình nên giữ hay bỏ thai cũng như cách theo dõi và chăm sóc cho bé sau sinh.

Phụ nữ mang thai nên đi khám thai đều đặn để sinh con khỏe mạnh.

Phụ nữ mang thai nên đi khám thai đều đặn để sinh con khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán trước sinh

Siêu âm độ mờ da gáy: Siêu âm độ mờ da gáy được thực hiện từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ. Để biết chính xác tuổi thai, bác sĩ siêu âm sẽ đo thai nhi từ đỉnh đầu đến dưới cùng của cột sống (gọi là chiều dài đầu - mông). Rồi sau đó sẽ đo độ dày của da gáy. Làn da sẽ xuất hiện vạch có màu trắng và chất dịch dưới da sẽ xem xét bằng màu đen giữa 2 vạch màu trắng.

Siêu âm thông thường được thực hiện qua đường bụng, nhưng đôi khi nó được thực hiện qua ngả âm đạo vì sẽ cung cấp cho hình ảnh tốt hơn.

Độ dày của da gáy bình thường lúc thai được 11 tuần khoảng 2mm và lúc thai được gần 14 tuần là khoảng 2,9mm. Độ dày (mờ) da gáy > 4mm trẻ có nguy cơ bị hội chứng Down hoặc một số bệnh lý khác...

Cần lưu ý rằng, hội chứng Down ở trẻ dựa trên tuổi mẹ phối hợp với đo độ mờ da gáy thai 11 tuần đến gần 14 tuần, nếu da gáy dày nhưng nhiễm sắc thể bình thường (trẻ không bị hội chứng Down), trẻ vẫn có nguy cơ cao bị dị tật tim.

Xét nghiệm huyết thanh thai phụ: Bác sĩ sẽ lấy máu của thai phụ để xét nghiệm. Đây là một xét nghiệm tìm ba chất trong máu của thai phụ gồm có AFP (alpha-fetoprotein), beta-hCG toàn phần và uE3 (estriol không liên hợp). Kết quả này được tính toán cùng với cân nặng, chiều cao của thai phụ, tuổi thai… để phát hiện những nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể và dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Thời gian làm xét nghiệm tốt nhất từ tuần thứ 15 - 20, để đạt kết quả chính xác là tuần 16 - 18 trong thai kỳ. Phương pháp này cho phép phát hiện những bất thường về chức năng các bộ phận của cơ thể.

Phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi: Khảo sát và phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi qua nuôi cấy tế bào ối nhằm phát hiện những bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể, qua đó phát hiện sớm những bệnh liên quan đến nhiễm sắc thể như hội chứng Down, Turner...

Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi cho hiệu quả cao với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, tỷ lệ thành công cao hơn, giảm tỷ lệ thai bất thường ở những thai phụ lớn tuổi, tìm ra nguyên nhân thất bại nhiều lần của thụ tinh trong ống nghiệm, sẩy thai liên tiếp, thai bị dị tật, phát hiện nhiều bệnh di truyền theo giới tính, những bệnh lý liên quan đến số lượng nhiễm sắc thể, đơn gene…

Lời khuyên của thầy thuốc

Phụ nữ mang thai trên 35 tuổi, những sản phụ bị nhiễm bệnh 3 tháng đầu của thai kỳ, bệnh nội khoa, những cặp vợ chồng tiếp xúc với tia xạ, chất độc hóa học, sản phụ có tiền sử sinh con dị tật, thai lưu, sẩy thai liên tiếp, tiền sử gia đình có người bị bệnh di truyền, bệnh liên quan đến nhiễm sắc thể, khi siêu âm hoặc xét nghiệm máu có xét nghiệm bất thường về thai sản… thực hiện chẩn đoán trước sinh cần được các bác sĩ chuyên khoa tư vấn và theo dõi.

Theo SKDS

[unable to retrieve full-text content]

Bệnh lý chậm phát triển tâm thần có thể nói là trạng thái chậm hoặc không phát triển tâm thần bẩm sinh hay mắc phải trong quá trình phát triển của cơ thể, chủ yếu là trong thời gian 3 năm đầu đời khi hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn chỉnh về mặt cấu trúc cần thiết.

Bệnh lý chậm phát triển tâm thần có thể nói là trạng thái chậm hoặc không phát triển tâm thần bẩm sinh hay mắc phải trong quá trình phát triển của cơ thể, chủ yếu là trong thời gian 3 năm đầu đời khi hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn chỉnh về mặt cấu trúc cần thiết.

Tình trạng chậm phát triển tâm thần có nguyên nhân có thể là nguyên phát hoặc thứ phát, biểu hiện lâm sàng thường xuất hiện sớm, một số trường hợp có khả năng chữa khỏi nếu được phát hiện sớm.

Nguyên nhân

Chậm phát triển tâm thần nguyên phát thường do các rối loạn bệnh lý di truyền, mắc các khuyết tật về gen như: bị hội chứng Down, chứng đầu nhỏ, bệnh não thủy thũng (não úng nước), có bất thường của nhiễm sắc thể giới tính; bị rối loạn chuyển hóa, mắc chứng đần độn, bị thiểu năng tuyến giáp trạng, có các thiếu sót chuyển hóa trong thời kỳ sơ sinh...

Các biểu hiện ở những tuần đầu tiên ngay sau khi trẻ được sinh ra thường có dấu hiệu giống trẻ sinh non như ngủ nhiều.

Chậm phát triển tâm thần thứ phát thường do người mẹ sinh ra trẻ bị mắc một số bệnh lý vì các tổn thương của bệnh giang mai, nhiễm độc, chấn thương khi sinh nở; do trẻ bị vàng da sơ sinh nặng, sinh non, mắc bệnh nặng hay bị chấn thương lúc còn nhỏ dưới 3 tháng tuổi. Đồng thời cũng có thể xảy ra ở những trẻ bị bỏ rơi, thiếu sự chăm sóc và nuôi dưỡng khi còn thơ ấu.

Trong những năm gần đây, các vấn đề về tâm lý xã hội nảy sinh, thiếu hụt cảm xúc, thiếu tiếp xúc tình cảm yêu thương đầy đủ giữa mẹ và con, nhất là trong khoảng thời gian 3 năm đầu đời khi trẻ mới sinh ra do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau cũng có thể là nguyên nhân gây nên tình trạng chậm phát triển tâm thần của trẻ.

Theo các nhà khoa học, tình trạng chậm phát triển tâm thần nhẹ thường do sự kết hợp của yếu tố sinh học và yếu tố xã hội; các trường hợp chậm phát triển tâm thần nặng có thể chỉ do các tổn thương thực thể gây ra.

Sự quan tâm của trẻ chậm phát triển tâm thần đối với các sự việc xảy ra chung quanh bị giảm sút

Biểu hiện

Các biểu hiện ở những tuần đầu tiên ngay sau khi trẻ được sinh ra thường có dấu hiệu giống trẻ sinh non như ngủ nhiều, không có nhu cầu bú sữa mẹ. Xu hướng ngủ nhiều có thể kéo dài trong vài tháng, trẻ ít cựa quậy, ít khóc hoặc không khóc. Các phản ứng của trẻ như đưa mắt theo dõi vật chuyển động, phản ứng với tiếng động như quay đầu về phía có tiếng động hoặc khóc, thay đổi vẻ mặt... khi có tiếng động ở mức độ ít hoặc chậm; nhiều khi hiện tượng này làm cho chẩn đoán nhầm là trẻ bị điếc. Tóm lại sự quan tâm của trẻ đối với các sự việc xảy ra chung quanh bị giảm sút hoặc hầu như không có. Trẻ chậm cười, chậm có sự chú ý tới những kích thích chung quanh; chậm phát triển về vận động như chậm lẫy, bò, ngồi, đi, đứng, nói...; trẻ cũng chậm biết nhai. Bình thường trẻ từ 12 - 20 tuần tuổi hay nằm nhìn bàn tay nó cử động, hiện tượng này vẫn còn tồn tại ở những trẻ chậm phát triển tâm thần có khi tới 2 - 3 tuổi. Trẻ bình thường hay ném các đồ vật có được trong tay xuống đất cho tới khi trẻ được 15 - 16 tháng tuổi, đối với trẻ chậm phát triển tâm thần thì hành động này kéo dài thời gian hơn. Trẻ thường không chú ý đến các vấn đề chung quanh, chỉ nhìn thoáng qua hoặc không nhìn theo các đồ vật, thiếu sự chú ý, không cố gắng để nhặt lại những đồ vật bị đánh rơi, có phản ứng nhạy hơn đối với các thử nghiệm tâm lý. Tuy nhiên cũng có trẻ tỏ ra quá hiền lành, ngờ nghệch; ngược lại có trẻ lại tăng động, giảm chú ý. Trong thực tế, trẻ chậm phát triển tâm thần có thể có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay kín đáo ngay từ khi mới sinh ra nhưng cũng có nhiều trường hợp trẻ phát triển bình thường cho tới một độ tuổi nào đó, thường là trước 3 tuổi rồi mới có biểu hiện chậm phát triển tâm thần dần dần. Ngược lại, một số trẻ có biểu hiện chậm phát triển về sự vận động cũng như các hoạt động tâm thần khác nhưng đến một độ tuổi nào đó, cũng thường trước 3 tuổi lại có khả năng phát triển tâm thần nhanh hơn. Vì vậy trong những trường hợp nghi ngờ trẻ bị chậm phát triển tâm thần, cần phải đưa trẻ đi khám và theo dõi cẩn thận sự phát triển của trẻ mới có thể có kết luận chính xác và xử trí can thiệp điều trị kịp thời, phù hợp.

Các biểu hiện ở tuổi mẫu giáo và tuổi đi học của trẻ cũng khác biệt. Ở nhóm tuổi này, tình trạng chậm phát triển tâm thần thường dễ bộc lộ bởi sự yếu kém trong các mặt hoạt động tâm hồn và trí tuệ của trẻ. Những năm đầu thường có thể gây nên trạng thái gọi là giả chậm phát triển tâm thần ở mức độ vừa và nhẹ. Nếu được phát hiện và xử trí can thiệp sớm, đúng lúc và phù hợp, trạng thái tâm thần của trẻ có khả năng được cải thiện rõ rệt. Trái lại, nếu không thực hiện được theo yêu cầu mong muốn, tình trạng chậm phát triển tâm thần cua trẻ có thể không phục hồi được giống như các trường hợp chậm phát triển tâm thần khác.

Điều trị

Trên thực tế, trừ một vài trường hợp trẻ bị chậm phát triển tâm thần có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện, chẩn đoán sớm; phần lớn các trường hợp khác không thể chữa khỏi, vì vậy việc xử trí can thiệp lúc này là tích cực giúp cho trẻ học tập và rèn luyện, sử dụng những khả năng tiềm ẩn, khả năng bù trừ của hệ thần kinh trung ương. Đối với các trường hợp trẻ chậm phát triển tâm thần ở mức độ vừa và nhẹ, việc chỉ dạy, huấn luyện, hướng dẫn, giúp đỡ trẻ là vấn đề rất quan trọng để trẻ có thể hòa nhập được với cuộc sống gia đình và xã hội, tự lập được trong cuộc sống sau này.

Trẻ chậm phát triển tâm thần ở mức độ vừa và nhẹ, việc chỉ dạy, huấn luyện, hướng dẫn, giúp đỡ trẻ là vấn đề rất quan trọng

Ở những quốc gia có hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em phát triển, những trẻ em bị chậm phát triển tâm thần được chăm sóc chu đáo, có nhiều hình thức học tập và huấn luyện tại các cơ sở như khoa nội trú, bệnh viện ban ngày, trung tâm tâm lý y học giáo dục, cơ sở phục hồi chức năng... Tại những trường phổ thông cơ sở, có các lớp học đặc biệt dành riêng cho trẻ em chậm phát triển tâm thần do các giáo viên được đào tạo chuyên môn về nội dung dạy học cho đối tượng này phụ trách giảng dạy. Đồng thời sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở y tế, trường học và gia đình trong việc nuôi dạy, giúp đỡ, hướng dẫn, chăm sóc, huấn luyện... cho các trẻ chậm phát triển tâm thần có thể cho nhiều kết quả tốt, đặc biệt là đối với trẻ bị mắc bệnh lý ở mức độ vừa và nhẹ. Trong thời gian gần đây, trẻ em chậm phát triển tâm thần đã được ngành Y tế, gia đình và xã hội chú ý nhiều hơn nhưng chưa đáp ứng với yêu cầu mong muốn, chỉ mới triển khai thực hiện biện pháp xử trí điều trị can thiệp với tính chất thí điểm để rút kinh nghiệm trước khi mở rộng mô hình. Vấn đề này cần được cộng đồng quan tâm để có giải pháp cụ thể, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình và cả xã hội trong tương lai.

Lời khuyên của thầy thuốc

Cần lưu ý việc phát hiện sớm nguyên nhân làm cho trẻ bị chậm phát triển tâm thần và xử trí can thiệp đúng lúc là rất quan trọng, cần thiết để phục hồi trạng thái tâm thần bình thường. Các nhà khoa học cho rằng tình trạng chậm phát triển tâm thần của trẻ nói chung là một trạng thái bệnh lý khá ổn định, đây là hậu quả của nhiều quá trình bệnh lý khác nhau và không có tính chất diễn biến tiến triển.

Theo SKDS

Việc điều trị lâu dài là cần thiết vì không chỉ để giảm các triệu chứng, mà còn giải quyết các vấn đề khó chịu khác, chẳng hạn như: rối loạn chức năng tình dục, xuất huyết sau giao hợp và nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Lựa chọn điều trị bao gồm cả biện pháp nội tiết tố và không dùng nội tiết.

Chỉ định điều trị

Khi có các triệu chứng gây khó chịu ở phụ nữ do giảm estrogen do mãn kinh hoặc những nguyên nhân khác. Những triệu chứng âm hộ - âm đạo bao gồm: khô âm đạo, nóng rát, ngứa, giao hợp đau, tiết dịch, xuất huyết. Những triệu chứng đường tiểu bao gồm: tiểu khó, tiểu nhắt, tiểu đau và tiểu máu.

Trước khi điều trị viêm teo âm đạo, những tình trạng cần được loại trừ, đặc biệt:

- Xuất huyết âm đạo ở phụ nữ tiền mãn kinh - mãn kinh: nên được đánh giá tăng sinh hoặc ung thư nội mạc tử cung.

- Những triệu chứng đường tiểu: nên được đánh giá về tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh lí ác tính đường tiểu.

Điều trị viêm teo âm đạo ở những phụ nữ không triệu chứng được chỉ định trong những bối cảnh lâm sàng, bao gồm:

- Trước khi phẫu thuật âm hộ - âm đạo: điều trị estrogen âm đạo hoặc hệ thống với mục đích tối ưu hóa việc xác định các lớp tổ chức và thúc đẩy sự lành vết thương. Có ít dữ liệu về cách điều trị này, việc sử dụng tùy vào phẫu thuật viên.

- Sa tạng vùng chậu hoặc són tiểu: một số thầy thuốc điều trị estrogen cho những phụ nữ bị sa tạng vùng chậu hoặc són tiểu, mặc dù lợi ích chưa rõ ràng. Tuy nhiên, khi dùng pessary thì sử dụng estrogen có ích trong việc phòng ngừa sự bào mòn âm đạo.

- Ngoài ra, cần điều trị estrogen ở những phụ nữ thiếu estrogen không do mãn kinh (tiền mãn kinh, cho con bú, dùng thuốc kháng estrogen).

Điều trị viêm teo âm đạo

Chống chỉ định

Chống chỉ định duy nhất của phương pháp điều trị không dùng nội tiết (chất bôi trơn, làm ẩm) là khi những phụ nữ có phản ứng dị ứng với sản phẩm.

Giảm đáng kể tình trạng viêm teo âm đạo mức độ nặng ở những người có tần số giao hợp cao

Chống chỉ định của phương pháp điều trị cơ học là khi những hoạt động của phụ nữ có thể dẫn đến chấn thương.

Sử dụng liệu pháp estrogen âm đạo đòi hỏi phải thận trọng ở phụ nữ, đặc biệt tăng nguy cơ đối với những người có một số khối u phụ thuộc estrogen. Đây là loại điều trị được coi là một lựa chọn hợp lý ở phụ nữ được sàng lọc một cách thích hợp sau khi điều trị ung thư nội mạc tử cung hoặc ung thư buồng trứng, nhưng gây tranh cãi ở phụ nữ bị ung thư vú.

Tiếp cận điều trị

Đối với triệu chứng khô âm đạo hoặc đau khi giao hợp liên quan đến viêm teo âm đạo, lựa chọn điều trị đầu tiên là không dùng nội tiết mà là chất làm ẩm và chất bôi trơn âm đạo. Nếu các chế phẩm này không làm giảm triệu chứng một cách hiệu quả thì liệu pháp estrogen có thể được sử dụng cho những phụ nữ không có chống chỉ định. Ngoài ra, hoạt động tình dục và/ hoặc sử dụng dụng cụ nong âm đạo có thể giúp duy trì một biểu mô âm đạo khỏe mạnh.

Chất làm ẩm và bôi trơn

Các triệu chứng của tình trạng khô âm đạo có thể được cải thiện bằng cách sử dụng thường xuyên của các thành phần dưỡng ẩm âm đạo với việc sử dụng bổ sung các chất bôi trơn âm đạo trong giao hợp. Các chất này có thể cải thiện sự thoải mái khi giao hợp và tăng độ ẩm âm đạo, tuy nhiên không hiệu quả đối với những trường hợp teo âm đạo nặng nề. Vì vậy, các chất này chủ yếu sử dụng cho những phụ nữ có triệu chứng nhẹ.

Kem dưỡng ẩm âm đạo được sử dụng một hoặc nhiều lần mỗi tuần, không chỉ trong hoạt động tình dục.

Ngoài việc sử dụng một loại kem dưỡng ẩm một cách thường xuyên, nhiều phụ nữ còn sử dụng một chất bôi trơn tại thời điểm giao hợp để giảm kích ứng gồm có. Các sản phẩm hòa tan trong nước. Chất bôi trơn silicone và chất bôi trơn chứa dầu. Phụ nữ nên thử những sản phẩm khác nhau cho đến khi tìm thấy loại đáp ứng nhu cầu của mình.

Một số dữ liệu cho thấy rằng các sản phẩm tạo nên pH axít (ở phụ nữ tiền mãn kinh, dịch tiết âm đạo bình thường có độ pH 4,0 - 4,5) có hiệu quả hơn. Ví dụ: một thử nghiệm ngẫu nhiên của những người bị ung thư vú sau mãn kinh với teo âm đạo thấy rằng một gel với axít lactic gia tăng (pH 4,0) giảm ngứa âm đạo, giảm khô và đau khi giao hợp so với loại gel không có axít lactic (pH 7,2),

Biện pháp cơ học

Hoạt động tình dục:

Phụ nữ có hoạt động tình dục với một đối tác hoặc thông qua thủ dâm ít có triệu chứng liên quan đến viêm teo âm đạo. Theo nghiên cứu gồm 52 phụ nữ sau mãn kinh cho thấy giảm đáng kể tình trạng viêm teo âm đạo mức độ nặng ở những người có tần số giao hợp cao hơn (chia hai nhóm với tần suất giao hợp 2,42 lần so với 0,24 lần mỗi tuần). Nồng độ estrogen huyết thanh không liên quan với mức độ nghiêm trọng của viêm teo âm đạo. Teo âm đạo gây nên mất độ đàn hồi mô, hoạt động giao hợp làm giảm teo âm đạo có thể xuất phát từ việc làm tăng co giãn của tổ chức âm hộ, âm đạo hoặc tăng lưu lượng máu âm đạo.

Khi cần, các bác sĩ có thể thông báo với bệnh nhân rằng hoạt động tình dục có thể cải thiện chức năng âm đạo. Tuy nhiên, điều này có thể không phù hợp cho phụ nữ bị giao hợp đau, khó khăn hoạt động tình dục hoặc những người không có đối tác tình dục. Các loại và tần suất hoạt động tình dục cần thiết để duy trì độ đàn hồi âm đạo và ngăn ngừa đau khi giao hợp hoặc teo hẹp âm đạo không được biết đến.

Dụng cụ nong âm đạo:

Những phụ nữ có chống chỉ định điều trị bằng estrogen và những người mong muốn giao hợp âm đạo có thể cải thiện chức năng âm đạo với việc sử dụng các dụng cụ nong âm đạo. Đây là biện pháp có thể đặc biệt hiệu quả cho phụ nữ tránh giao hợp vì đau đớn, vì bộ dụng cụ nong âm đạo có sẵn với kích thước tăng dần và ban đầu có thể dùng với kích thước nhỏ. Việc dùng dụng cụ nong âm đạo có thể được dạy cho người phụ nữ bởi bác sĩ riêng hoặc bác sĩ chuyên khoa vật lý vùng chậu.

Theo SKDS

Viêm teo âm đạo (còn được gọi là teo âm hộ - âm đạo, teo niệu dục, teo âm đạo) do thiếu estrogen và kèm theo những than phiền như: khô, rát, giao hợp đau ở phụ nữ mãn kinh. Thường kèm theo tiểu nhiều lần và nhiễm trùng bàng quang tái phát.

Việc điều trị lâu dài là cần thiết vì không chỉ để giảm các triệu chứng, mà còn giải quyết các vấn đề khó chịu khác, chẳng hạn như: rối loạn chức năng tình dục, xuất huyết sau giao hợp và nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Lựa chọn điều trị bao gồm cả biện pháp nội tiết tố và không dùng nội tiết.

Chỉ định điều trị

Khi có các triệu chứng gây khó chịu ở phụ nữ do giảm estrogen do mãn kinh hoặc những nguyên nhân khác. Những triệu chứng âm hộ - âm đạo bao gồm: khô âm đạo, nóng rát, ngứa, giao hợp đau, tiết dịch, xuất huyết. Những triệu chứng đường tiểu bao gồm: tiểu khó, tiểu nhắt, tiểu đau và tiểu máu.

Trước khi điều trị viêm teo âm đạo, những tình trạng cần được loại trừ, đặc biệt:

- Xuất huyết âm đạo ở phụ nữ tiền mãn kinh - mãn kinh: nên được đánh giá tăng sinh hoặc ung thư nội mạc tử cung.

- Những triệu chứng đường tiểu: nên được đánh giá về tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh lí ác tính đường tiểu.

Điều trị viêm teo âm đạo ở những phụ nữ không triệu chứng được chỉ định trong những bối cảnh lâm sàng, bao gồm:

- Trước khi phẫu thuật âm hộ - âm đạo: điều trị estrogen âm đạo hoặc hệ thống với mục đích tối ưu hóa việc xác định các lớp tổ chức và thúc đẩy sự lành vết thương. Có ít dữ liệu về cách điều trị này, việc sử dụng tùy vào phẫu thuật viên.

- Sa tạng vùng chậu hoặc són tiểu: một số thầy thuốc điều trị estrogen cho những phụ nữ bị sa tạng vùng chậu hoặc són tiểu, mặc dù lợi ích chưa rõ ràng. Tuy nhiên, khi dùng pessary thì sử dụng estrogen có ích trong việc phòng ngừa sự bào mòn âm đạo.

- Ngoài ra, cần điều trị estrogen ở những phụ nữ thiếu estrogen không do mãn kinh (tiền mãn kinh, cho con bú, dùng thuốc kháng estrogen).

Điều trị viêm teo âm đạo

Chống chỉ định

Chống chỉ định duy nhất của phương pháp điều trị không dùng nội tiết (chất bôi trơn, làm ẩm) là khi những phụ nữ có phản ứng dị ứng với sản phẩm.

Giảm đáng kể tình trạng viêm teo âm đạo mức độ nặng ở những người có tần số giao hợp cao

Chống chỉ định của phương pháp điều trị cơ học là khi những hoạt động của phụ nữ có thể dẫn đến chấn thương.

Sử dụng liệu pháp estrogen âm đạo đòi hỏi phải thận trọng ở phụ nữ, đặc biệt tăng nguy cơ đối với những người có một số khối u phụ thuộc estrogen. Đây là loại điều trị được coi là một lựa chọn hợp lý ở phụ nữ được sàng lọc một cách thích hợp sau khi điều trị ung thư nội mạc tử cung hoặc ung thư buồng trứng, nhưng gây tranh cãi ở phụ nữ bị ung thư vú.

Tiếp cận điều trị

Đối với triệu chứng khô âm đạo hoặc đau khi giao hợp liên quan đến viêm teo âm đạo, lựa chọn điều trị đầu tiên là không dùng nội tiết mà là chất làm ẩm và chất bôi trơn âm đạo. Nếu các chế phẩm này không làm giảm triệu chứng một cách hiệu quả thì liệu pháp estrogen có thể được sử dụng cho những phụ nữ không có chống chỉ định. Ngoài ra, hoạt động tình dục và/ hoặc sử dụng dụng cụ nong âm đạo có thể giúp duy trì một biểu mô âm đạo khỏe mạnh.

Chất làm ẩm và bôi trơn

Các triệu chứng của tình trạng khô âm đạo có thể được cải thiện bằng cách sử dụng thường xuyên của các thành phần dưỡng ẩm âm đạo với việc sử dụng bổ sung các chất bôi trơn âm đạo trong giao hợp. Các chất này có thể cải thiện sự thoải mái khi giao hợp và tăng độ ẩm âm đạo, tuy nhiên không hiệu quả đối với những trường hợp teo âm đạo nặng nề. Vì vậy, các chất này chủ yếu sử dụng cho những phụ nữ có triệu chứng nhẹ.

Kem dưỡng ẩm âm đạo được sử dụng một hoặc nhiều lần mỗi tuần, không chỉ trong hoạt động tình dục.

Ngoài việc sử dụng một loại kem dưỡng ẩm một cách thường xuyên, nhiều phụ nữ còn sử dụng một chất bôi trơn tại thời điểm giao hợp để giảm kích ứng gồm có. Các sản phẩm hòa tan trong nước. Chất bôi trơn silicone và chất bôi trơn chứa dầu. Phụ nữ nên thử những sản phẩm khác nhau cho đến khi tìm thấy loại đáp ứng nhu cầu của mình.

Một số dữ liệu cho thấy rằng các sản phẩm tạo nên pH axít (ở phụ nữ tiền mãn kinh, dịch tiết âm đạo bình thường có độ pH 4,0 - 4,5) có hiệu quả hơn. Ví dụ: một thử nghiệm ngẫu nhiên của những người bị ung thư vú sau mãn kinh với teo âm đạo thấy rằng một gel với axít lactic gia tăng (pH 4,0) giảm ngứa âm đạo, giảm khô và đau khi giao hợp so với loại gel không có axít lactic (pH 7,2),

Biện pháp cơ học

Hoạt động tình dục:

Phụ nữ có hoạt động tình dục với một đối tác hoặc thông qua thủ dâm ít có triệu chứng liên quan đến viêm teo âm đạo. Theo nghiên cứu gồm 52 phụ nữ sau mãn kinh cho thấy giảm đáng kể tình trạng viêm teo âm đạo mức độ nặng ở những người có tần số giao hợp cao hơn (chia hai nhóm với tần suất giao hợp 2,42 lần so với 0,24 lần mỗi tuần). Nồng độ estrogen huyết thanh không liên quan với mức độ nghiêm trọng của viêm teo âm đạo. Teo âm đạo gây nên mất độ đàn hồi mô, hoạt động giao hợp làm giảm teo âm đạo có thể xuất phát từ việc làm tăng co giãn của tổ chức âm hộ, âm đạo hoặc tăng lưu lượng máu âm đạo.

Khi cần, các bác sĩ có thể thông báo với bệnh nhân rằng hoạt động tình dục có thể cải thiện chức năng âm đạo. Tuy nhiên, điều này có thể không phù hợp cho phụ nữ bị giao hợp đau, khó khăn hoạt động tình dục hoặc những người không có đối tác tình dục. Các loại và tần suất hoạt động tình dục cần thiết để duy trì độ đàn hồi âm đạo và ngăn ngừa đau khi giao hợp hoặc teo hẹp âm đạo không được biết đến.

Dụng cụ nong âm đạo:

Những phụ nữ có chống chỉ định điều trị bằng estrogen và những người mong muốn giao hợp âm đạo có thể cải thiện chức năng âm đạo với việc sử dụng các dụng cụ nong âm đạo. Đây là biện pháp có thể đặc biệt hiệu quả cho phụ nữ tránh giao hợp vì đau đớn, vì bộ dụng cụ nong âm đạo có sẵn với kích thước tăng dần và ban đầu có thể dùng với kích thước nhỏ. Việc dùng dụng cụ nong âm đạo có thể được dạy cho người phụ nữ bởi bác sĩ riêng hoặc bác sĩ chuyên khoa vật lý vùng chậu.

Theo SKDS

Yếu tố nguy cơ

Bệnh thường xảy ra ở những người có các yếu tố nguy cơ sau:

- Huyết áp: những người mắc bệnh tăng huyết áp ở tuổi trung niên là đối tượng có  nguy cơ cao về sa sút trí tuệ. Vì tăng huyết áp có mối liên quan đến quá trình thoái hóa thần kinh hoặc gây teo não. Ngược lại ở nhóm người cao tuổi thì  huyết áp thấp lại là đối tượng có  khả năng bị sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer.

- Đái tháo đường gây tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

- Bệnh tim: bệnh tim mạch thường phối hợp với tăng nguy cơ sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer.

- Bệnh mạch máu não: nhồi máu não đa ổ, đột quỵ là những yếu tố nguy cơ chính gây sa sút trí tuệ sau đột quỵ.

- Tăng mỡ máu có mối liên quan giữa tăng cholesterol máu ở tuổi trung niên với bệnh Alzheimer khi về già.

- Uống rượu: uống rượu quá mức có thể gây sa sút trí tuệ do rượu và làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ do mạch máu.

- Chế độ ăn: một số nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa chế độ ăn nhiều mỡ bão hòa với tăng nguy cơ bị bệnh Alzheimer...

Bệnh sa sút trí tuệ

Các dấu hiệu

Thời kỳ đầu, sa sút trí tuệ chỉ có những biểu hiện nhẹ như: thường quên những sự việc vừa mới xảy ra và không nhớ lại được, cũng có thể quên ngay những điều vừa mới nghe hoặc những điều vừa mới dự định làm và sự suy giảm trí nhớ ngày càng nặng hơn, người bệnh quên cả các sự kiện xảy ra trước đó, quên tên người quen cũ, đồng nghiệp, quên các kiến thức đã học… rồi quên cả các sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc sống cá nhân của mình.

Rối loạn định hướng:

Trí nhớ là một nhân tố quan trọng trong việc định hướng, do vậy khi bị sa sút trí tuệ thì khả năng định hướng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nó làm cho người bệnh bị lạc đường, không nhớ được cách họ đi đến một nơi cụ thể và quên cách để trở về nhà, dần dần mất hoàn toàn khả năng định hướng không gian và thời gian.

Rối loạn hoạt động:

Người bệnh có thể không còn nhớ cách ăn uống hoặc không thể tự ăn uống được, nặng hơn, người bệnh không thể tự vệ sinh cá nhân mà cần phải có sự giúp đỡ của gia đình, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của gia đình trong các công việc, sinh hoạt. Ở giai đoạn bệnh nặng, người bệnh không biết cách ăn uống, vệ sinh cá nhân…

Rối loạn ngôn ngữ:

Quên những từ đơn giản hoặc dùng từ không đúng, khó khăn trong việc tìm từ, diễn đạt, rối loạn phát âm như: nói lắp, khó gọi tên đồ vật…

Giảm khả năng tư duy trừu tượng:

Người bệnh có thể không nhận ra được các con số hoặc không thực hiện được các phép tính đơn giản. Khả năng suy luận, phán đoán và giải quyết vấn đề cũng bị suy giảm, ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp, các quan hệ xã hội và ngay cả trong cuộc sống gia đình, hoạt động sống hàng ngày của người bệnh.

Thay đổi tính cách:

Cùng với tình trạng quên, người bệnh thường âu lo, buồn phiền, giận dữ, dễ kích động, nghi ngờ hoặc sợ sệt và mất tự chủ…

Biểu hiện của bệnh thường rất đa dạng nhưng nổi bật nhất là giảm trí nhớ, từ từ nặng dần, mất dần khả năng nhận thức và trí tuệ trong vòng 2 - 10 năm và hậu quả là mất hết mọi khả năng sinh hoạt độc lập, trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào người khác và thường tử vong do các bệnh nhiễm trùng.

Những giai đoạn

Ở giai đoạn đầu: người bệnh giảm trí nhớ gần hay còn gọi là trí nhớ ngắn hạn như nhắc đi nhắc lại một câu hỏi, thậm chí chỉ cách nhau vài phút, hoặc rất hay đi tìm đồ dùng cá nhân vì không nhớ để ở đâu, quên các từ ngữ thường dùng nên phải diễn đạt theo kiểu nói vòng vo, rất khó khăn trong sinh hoạt thường ngày. Người bệnh có sự thay đổi nhân cách, rối loạn cảm xúc và giảm khả năng nhận xét, đánh giá, người bệnh trở nên khó tính, dễ nóng giận và kích động.

Giai đoạn trung gian: người bệnh bắt đầu khó hoặc không làm được công việc hàng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân... mất khả năng thu nhận thông tin nên bị rối loạn định hướng nặng về không gian và thời gian. Người bệnh có thể bị lạc ngay cả khi ở trong nhà mình, dễ bị té ngã. Nặng hơn, có thể bị hoang tưởng, đặc biệt hoang tưởng bị hại, do đó ngày càng trở nên nghi kỵ người xung quanh.

Giai đoạn nặng: người bệnh hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trong các hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và đi lại, người bệnh không còn nhận biết được người thân trong gia đình, không đi lại được nên phải nằm liệt giường.

Khi có những biểu hiện của bệnh sa sút trí tuệ cần được đưa đến khám tại các cơ sở y tế với các biểu hiện như: hỏi đi hỏi lại mãi cùng một câu hỏi, thường dựa dẫm vào người khác để quyết định một vấn đề, quên những hoạt động mà trước đó họ thường xuyên làm một cách dễ dàng như quên cách nấu ăn, đánh răng, rửa mặt, nhầm lẫn về tiền nong..., hoặc bị lạc ở những nơi quen thuộc, để nhầm đồ đạc trong nhà, hoặc có những rối loạn về tâm thần như hoang tưởng, ảo giác, kích động, đi lang thang. Tuy nhiên, hiện tại chưa có các thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sa sút trí tuệ, chỉ có thể điều trị triệu chứng, làm chậm tốc độ tiến triển của bệnh.

Một số biến chứng

Bệnh sa sút trí tuệ, nếu không được phát hiện sớm, điều trị kịp thời sẽ dẫn đến giai đoạn nặng, khi đó trí nhớ ngắn hạn, dài hạn của người mắc bệnh sa sút trí tuệ gần như bị mất hoàn toàn. Do đó, sẽ có một số biến chứng hay gặp nhất ở người bệnh sa sút trí tuệ:

Ăn uống kém:

Người bị bệnh sa sút trí tuệ thường ăn uống ít hoặc không chịu ăn uống. Họ thường quên ăn hoặc nghĩ là mình đã ăn rồi, đồng thời khả năng vận động phản xạ như nuốt bị suy giảm hoặc mất cho nên dễ bị rối loạn dinh dưỡng hay sặc thức ăn vào phổi gây tắc nghẽn đường thở hoặc gây viêm phổi.

Vệ sinh không đảm bảo:

Người bệnh hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trong các hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và đi lại. Người bệnh không thể đi lại được chỉ nằm một chỗ, đi tiểu không tự chủ nên phải đặt thông tiểu cho nên làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, nếu không được điều trị sớm thì bệnh sẽ ngày càng nặng hơn, có thể đe dọa mạng sống người bệnh. Do nằm lâu một chỗ cho nên các điểm tỳ, nhất là vùng lưng, xương, 2 bên hông dễ bị lở loét do bị liệt toàn thân…

Suy thoái tinh thần:

Sa sút trí tuệ khiến người bệnh thay đổi về tính cách và thái độ, có thể dẫn đến trầm cảm, kích động, hỗn loạn, lo lắng, mất khả năng ức chế, rối loạn định hướng.

Dễ bị té ngã, chấn thương:

Người bệnh sa sút trí tuệ thường bị mất định hướng và dễ dàng bị vấp ngã, làm tăng nguy cơ gãy xương. Hơn nữa, khi té ngã sẽ gây chấn thương đầu nặng, như xuất huyết nội sọ, người bệnh phải chịu phẫu thuật nằm viện dài ngày, càng làm tăng nguy cơ huyết khối trong não, tim, phổi, loét da do tư thế,… tất cả đều đe dọa mạng sống người bệnh.

Phòng tránh như thế nào?

Để phòng tránh và điều trị hiệu quả sa sút trí tuệ, điều cần thiết là phát hiện sớm và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ để làm chậm phát thành bệnh. Theo những nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học đã đưa ra hai giả thuyết gợi ý khả năng dự phòng sa sút trí tuệ. Thứ nhất, là giả thuyết mạch máu và điều trị các yếu tố nguy cơ, thứ hai, là giả thuyết về tâm lý xã hội với lối sống tích cực và gắn kết với xã hội ở tuổi trung niên và tuổi già có thể có tác dụng bảo vệ hoặc làm chậm sự khởi phát sa sút trí tuệ.

Cùng với sự phát triển và tiến bộ của y học, ngày nay, có thể điều trị bệnh sa sút trí tuệ ở giai đoạn còn sớm hoặc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, giúp người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Song song với tiến trình điều trị là quá trình chăm sóc người bệnh, để chăm sóc người mắc bệnh sa sút trí tuệ hiệu quả, có thể áp dụng các phương pháp sau:

Về ăn uống:

Xây dựng khẩu phần ăn đầy đủ, cân bằng, hợp lý, bổ sung đầy đủ các loại vitamin như B6, B12, Omega3… trong các bữa ăn, hạn chế chất béo, muối và đường, loại bỏ thuốc lá, hạn chế uống rượu bia… sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch, nhũn não, đột quỵ và tai biến mạch máu não. Nên cho người bệnh ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày, nhắc nhở người bệnh ăn uống đầy đủ, đúng giờ và uống thuốc đầy đủ.

Luyện tập thể dục:

Vận động, luyện tập thể dục đều đặn mỗi ngày cũng giúp cải thiện trí nhớ và làm chậm quá trình lão hóa cũng như sa sút trí tuệ, có thể tập mỗi lần khoảng 10 - 20 phút, thời gian nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe hiện tại của người bệnh. Nên tập những môn vừa với sức khỏe và phù hợp với lứa tuổi như đi bộ, aerobic, chạy bộ và đạp xe đạp tại chỗ, cũng có thể đi dạo trong công viên, tập thể dục, chơi với thú cưng, tập yoga, thiền, ngủ đủ giấc, duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh… cũng là những liệu pháp xoa dịu thần kinh hiệu quả và giúp người bệnh lấy lại sự thanh thản, nhẹ nhàng tâm trí một cách nhanh chóng.

Chia sẻ, cảm thông với người bệnh:

Chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ là một công việc rất khó khăn và đòi hỏi sự kiên nhẫn cao, vì sa sút trí tuệ là bệnh không thể chữa khỏi, nên họ phải chịu đựng những chấn thương về thể chất và tinh thần. Bên cạnh đó, người bệnh thường có sự thay đổi về tâm thần như hay nghi ngờ, cáu gắt, bướng bỉnh, khó chịu, cho nên người nhà nên chăm sóc nhẹ nhàng, vỗ về với lời nói ngắn gọn, chậm rãi, rõ ràng, thường xuyên thăm hỏi, nhất là trẻ thơ vì chúng là nguồn động viên tinh thần rất lớn cho người bệnh.

Phòng chống các biến chứng nguy hiểm khác như:

- Phòng ngừa biến chứng viêm phổi.

- Phòng chống viêm đường tiết niệu bằng cách cho người bệnh uống đủ nước, vệ sinh sạch sẽ sau khi đi tiểu, bảo đảm vô trùng đối với các phương tiện đưa vào đường tiểu nếu phải đặt sond.

- Phòng chống loét điểm tỳ nhất là ở các vùng kheo, xương cùng, 2 bên hông, xoa bóp hàng ngày, tránh để tỳ nén quá lâu một chỗ, xoa bột talc vào những chỗ có nguy cơ đe dọa loét.

Với những thông tin về dấu hiệu, biến chứng cũng như cách chăm sóc người bị bệnh sa sút trí tuệ mong rằng khi trong gia đình có người thân nghi ngờ bị sa sút trí tuệ, hãy nhanh chóng đưa họ đến khám chuyên khoa tâm thần hoặc lão khoa để có biện pháp điều trị kịp thời, tránh những ảnh hưởng xấu từ biến chứng của căn bệnh gây ra.

Phòng việc người bệnh đi lang thang, lạc lối, cần thực hiện các biện pháp sau:

Bệnh sa sút trí tuệ

- Thay ổ khóa cửa mở cần chìa, gắn hệ thống báo động cửa ra vào.
- Cho người bệnh mang vòng tay có ghi tên họ, địa chỉ, số điện thoại cần liên lạc.
- Thường xuyên để ý đến người bệnh.

Theo SKDS

Sa sút trí tuệ là sự suy giảm chức năng trí tuệ và nhận thức, dẫn đến giảm khả năng hoạt động sống hàng ngày. Đây bệnh thường gặp và gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người cao tuổi.

Yếu tố nguy cơ

Bệnh thường xảy ra ở những người có các yếu tố nguy cơ sau:

- Huyết áp: những người mắc bệnh tăng huyết áp ở tuổi trung niên là đối tượng có  nguy cơ cao về sa sút trí tuệ. Vì tăng huyết áp có mối liên quan đến quá trình thoái hóa thần kinh hoặc gây teo não. Ngược lại ở nhóm người cao tuổi thì  huyết áp thấp lại là đối tượng có  khả năng bị sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer.

- Đái tháo đường gây tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

- Bệnh tim: bệnh tim mạch thường phối hợp với tăng nguy cơ sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer.

- Bệnh mạch máu não: nhồi máu não đa ổ, đột quỵ là những yếu tố nguy cơ chính gây sa sút trí tuệ sau đột quỵ.

- Tăng mỡ máu có mối liên quan giữa tăng cholesterol máu ở tuổi trung niên với bệnh Alzheimer khi về già.

- Uống rượu: uống rượu quá mức có thể gây sa sút trí tuệ do rượu và làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ do mạch máu.

- Chế độ ăn: một số nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa chế độ ăn nhiều mỡ bão hòa với tăng nguy cơ bị bệnh Alzheimer...

Bệnh sa sút trí tuệ

Các dấu hiệu

Thời kỳ đầu, sa sút trí tuệ chỉ có những biểu hiện nhẹ như: thường quên những sự việc vừa mới xảy ra và không nhớ lại được, cũng có thể quên ngay những điều vừa mới nghe hoặc những điều vừa mới dự định làm và sự suy giảm trí nhớ ngày càng nặng hơn, người bệnh quên cả các sự kiện xảy ra trước đó, quên tên người quen cũ, đồng nghiệp, quên các kiến thức đã học… rồi quên cả các sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc sống cá nhân của mình.

Rối loạn định hướng:

Trí nhớ là một nhân tố quan trọng trong việc định hướng, do vậy khi bị sa sút trí tuệ thì khả năng định hướng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nó làm cho người bệnh bị lạc đường, không nhớ được cách họ đi đến một nơi cụ thể và quên cách để trở về nhà, dần dần mất hoàn toàn khả năng định hướng không gian và thời gian.

Rối loạn hoạt động:

Người bệnh có thể không còn nhớ cách ăn uống hoặc không thể tự ăn uống được, nặng hơn, người bệnh không thể tự vệ sinh cá nhân mà cần phải có sự giúp đỡ của gia đình, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của gia đình trong các công việc, sinh hoạt. Ở giai đoạn bệnh nặng, người bệnh không biết cách ăn uống, vệ sinh cá nhân…

Rối loạn ngôn ngữ:

Quên những từ đơn giản hoặc dùng từ không đúng, khó khăn trong việc tìm từ, diễn đạt, rối loạn phát âm như: nói lắp, khó gọi tên đồ vật…

Giảm khả năng tư duy trừu tượng:

Người bệnh có thể không nhận ra được các con số hoặc không thực hiện được các phép tính đơn giản. Khả năng suy luận, phán đoán và giải quyết vấn đề cũng bị suy giảm, ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp, các quan hệ xã hội và ngay cả trong cuộc sống gia đình, hoạt động sống hàng ngày của người bệnh.

Thay đổi tính cách:

Cùng với tình trạng quên, người bệnh thường âu lo, buồn phiền, giận dữ, dễ kích động, nghi ngờ hoặc sợ sệt và mất tự chủ…

Biểu hiện của bệnh thường rất đa dạng nhưng nổi bật nhất là giảm trí nhớ, từ từ nặng dần, mất dần khả năng nhận thức và trí tuệ trong vòng 2 - 10 năm và hậu quả là mất hết mọi khả năng sinh hoạt độc lập, trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào người khác và thường tử vong do các bệnh nhiễm trùng.

Những giai đoạn

Ở giai đoạn đầu: người bệnh giảm trí nhớ gần hay còn gọi là trí nhớ ngắn hạn như nhắc đi nhắc lại một câu hỏi, thậm chí chỉ cách nhau vài phút, hoặc rất hay đi tìm đồ dùng cá nhân vì không nhớ để ở đâu, quên các từ ngữ thường dùng nên phải diễn đạt theo kiểu nói vòng vo, rất khó khăn trong sinh hoạt thường ngày. Người bệnh có sự thay đổi nhân cách, rối loạn cảm xúc và giảm khả năng nhận xét, đánh giá, người bệnh trở nên khó tính, dễ nóng giận và kích động.

Giai đoạn trung gian: người bệnh bắt đầu khó hoặc không làm được công việc hàng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân... mất khả năng thu nhận thông tin nên bị rối loạn định hướng nặng về không gian và thời gian. Người bệnh có thể bị lạc ngay cả khi ở trong nhà mình, dễ bị té ngã. Nặng hơn, có thể bị hoang tưởng, đặc biệt hoang tưởng bị hại, do đó ngày càng trở nên nghi kỵ người xung quanh.

Giai đoạn nặng: người bệnh hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trong các hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và đi lại, người bệnh không còn nhận biết được người thân trong gia đình, không đi lại được nên phải nằm liệt giường.

Khi có những biểu hiện của bệnh sa sút trí tuệ cần được đưa đến khám tại các cơ sở y tế với các biểu hiện như: hỏi đi hỏi lại mãi cùng một câu hỏi, thường dựa dẫm vào người khác để quyết định một vấn đề, quên những hoạt động mà trước đó họ thường xuyên làm một cách dễ dàng như quên cách nấu ăn, đánh răng, rửa mặt, nhầm lẫn về tiền nong..., hoặc bị lạc ở những nơi quen thuộc, để nhầm đồ đạc trong nhà, hoặc có những rối loạn về tâm thần như hoang tưởng, ảo giác, kích động, đi lang thang. Tuy nhiên, hiện tại chưa có các thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh sa sút trí tuệ, chỉ có thể điều trị triệu chứng, làm chậm tốc độ tiến triển của bệnh.

Một số biến chứng

Bệnh sa sút trí tuệ, nếu không được phát hiện sớm, điều trị kịp thời sẽ dẫn đến giai đoạn nặng, khi đó trí nhớ ngắn hạn, dài hạn của người mắc bệnh sa sút trí tuệ gần như bị mất hoàn toàn. Do đó, sẽ có một số biến chứng hay gặp nhất ở người bệnh sa sút trí tuệ:

Ăn uống kém:

Người bị bệnh sa sút trí tuệ thường ăn uống ít hoặc không chịu ăn uống. Họ thường quên ăn hoặc nghĩ là mình đã ăn rồi, đồng thời khả năng vận động phản xạ như nuốt bị suy giảm hoặc mất cho nên dễ bị rối loạn dinh dưỡng hay sặc thức ăn vào phổi gây tắc nghẽn đường thở hoặc gây viêm phổi.

Vệ sinh không đảm bảo:

Người bệnh hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trong các hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và đi lại. Người bệnh không thể đi lại được chỉ nằm một chỗ, đi tiểu không tự chủ nên phải đặt thông tiểu cho nên làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, nếu không được điều trị sớm thì bệnh sẽ ngày càng nặng hơn, có thể đe dọa mạng sống người bệnh. Do nằm lâu một chỗ cho nên các điểm tỳ, nhất là vùng lưng, xương, 2 bên hông dễ bị lở loét do bị liệt toàn thân…

Suy thoái tinh thần:

Sa sút trí tuệ khiến người bệnh thay đổi về tính cách và thái độ, có thể dẫn đến trầm cảm, kích động, hỗn loạn, lo lắng, mất khả năng ức chế, rối loạn định hướng.

Dễ bị té ngã, chấn thương:

Người bệnh sa sút trí tuệ thường bị mất định hướng và dễ dàng bị vấp ngã, làm tăng nguy cơ gãy xương. Hơn nữa, khi té ngã sẽ gây chấn thương đầu nặng, như xuất huyết nội sọ, người bệnh phải chịu phẫu thuật nằm viện dài ngày, càng làm tăng nguy cơ huyết khối trong não, tim, phổi, loét da do tư thế,… tất cả đều đe dọa mạng sống người bệnh.

Phòng tránh như thế nào?

Để phòng tránh và điều trị hiệu quả sa sút trí tuệ, điều cần thiết là phát hiện sớm và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ để làm chậm phát thành bệnh. Theo những nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học đã đưa ra hai giả thuyết gợi ý khả năng dự phòng sa sút trí tuệ. Thứ nhất, là giả thuyết mạch máu và điều trị các yếu tố nguy cơ, thứ hai, là giả thuyết về tâm lý xã hội với lối sống tích cực và gắn kết với xã hội ở tuổi trung niên và tuổi già có thể có tác dụng bảo vệ hoặc làm chậm sự khởi phát sa sút trí tuệ.

Cùng với sự phát triển và tiến bộ của y học, ngày nay, có thể điều trị bệnh sa sút trí tuệ ở giai đoạn còn sớm hoặc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, giúp người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Song song với tiến trình điều trị là quá trình chăm sóc người bệnh, để chăm sóc người mắc bệnh sa sút trí tuệ hiệu quả, có thể áp dụng các phương pháp sau:

Về ăn uống:

Xây dựng khẩu phần ăn đầy đủ, cân bằng, hợp lý, bổ sung đầy đủ các loại vitamin như B6, B12, Omega3… trong các bữa ăn, hạn chế chất béo, muối và đường, loại bỏ thuốc lá, hạn chế uống rượu bia… sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch, nhũn não, đột quỵ và tai biến mạch máu não. Nên cho người bệnh ăn nhiều bữa nhỏ trong ngày, nhắc nhở người bệnh ăn uống đầy đủ, đúng giờ và uống thuốc đầy đủ.

Luyện tập thể dục:

Vận động, luyện tập thể dục đều đặn mỗi ngày cũng giúp cải thiện trí nhớ và làm chậm quá trình lão hóa cũng như sa sút trí tuệ, có thể tập mỗi lần khoảng 10 - 20 phút, thời gian nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe hiện tại của người bệnh. Nên tập những môn vừa với sức khỏe và phù hợp với lứa tuổi như đi bộ, aerobic, chạy bộ và đạp xe đạp tại chỗ, cũng có thể đi dạo trong công viên, tập thể dục, chơi với thú cưng, tập yoga, thiền, ngủ đủ giấc, duy trì chế độ sinh hoạt lành mạnh… cũng là những liệu pháp xoa dịu thần kinh hiệu quả và giúp người bệnh lấy lại sự thanh thản, nhẹ nhàng tâm trí một cách nhanh chóng.

Chia sẻ, cảm thông với người bệnh:

Chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ là một công việc rất khó khăn và đòi hỏi sự kiên nhẫn cao, vì sa sút trí tuệ là bệnh không thể chữa khỏi, nên họ phải chịu đựng những chấn thương về thể chất và tinh thần. Bên cạnh đó, người bệnh thường có sự thay đổi về tâm thần như hay nghi ngờ, cáu gắt, bướng bỉnh, khó chịu, cho nên người nhà nên chăm sóc nhẹ nhàng, vỗ về với lời nói ngắn gọn, chậm rãi, rõ ràng, thường xuyên thăm hỏi, nhất là trẻ thơ vì chúng là nguồn động viên tinh thần rất lớn cho người bệnh.

Phòng chống các biến chứng nguy hiểm khác như:

- Phòng ngừa biến chứng viêm phổi.

- Phòng chống viêm đường tiết niệu bằng cách cho người bệnh uống đủ nước, vệ sinh sạch sẽ sau khi đi tiểu, bảo đảm vô trùng đối với các phương tiện đưa vào đường tiểu nếu phải đặt sond.

- Phòng chống loét điểm tỳ nhất là ở các vùng kheo, xương cùng, 2 bên hông, xoa bóp hàng ngày, tránh để tỳ nén quá lâu một chỗ, xoa bột talc vào những chỗ có nguy cơ đe dọa loét.

Với những thông tin về dấu hiệu, biến chứng cũng như cách chăm sóc người bị bệnh sa sút trí tuệ mong rằng khi trong gia đình có người thân nghi ngờ bị sa sút trí tuệ, hãy nhanh chóng đưa họ đến khám chuyên khoa tâm thần hoặc lão khoa để có biện pháp điều trị kịp thời, tránh những ảnh hưởng xấu từ biến chứng của căn bệnh gây ra.

Phòng việc người bệnh đi lang thang, lạc lối, cần thực hiện các biện pháp sau:

Bệnh sa sút trí tuệ

- Thay ổ khóa cửa mở cần chìa, gắn hệ thống báo động cửa ra vào.
- Cho người bệnh mang vòng tay có ghi tên họ, địa chỉ, số điện thoại cần liên lạc.
- Thường xuyên để ý đến người bệnh.

Theo SKDS

Do thuốc hoặc thực phẩm gây bốc hỏa

“Bốc hỏa” do nhiều nguyên nhân ngoài mãn kinh: nhiều chị em chưa đến tuổi tiền mãn kinh nhưng vẫn bị những cơn bừng “bốc hỏa” hành hạ.  Bạn sẽ bị cơn bốc hỏa khi thân nhiệt tăng cao, đắp chăn quá nóng, uống nước nóng, khi nhiệt độ phòng quá cao…

Cơn bừng bốc hỏa có thể là tác dụng không mong muốn của một số loại thuốc bạn dùng như: Raloxifene (Evista) là loại thuốc được kê cho người bị loãng xương; tamoxifen (Tamoxifen và Nolvadex) là loại thuốc dùng để điều trị ung thư vú; do tác dụng không mong muốn của hóa trị; tramadol, là thuốc giảm đau…Khi uống, các thuốc này có thể làm da bạn nóng bừng như bốc hỏa trong người, tuy các tác dụng này thường hiếm gặp.

Uống rượu gây nóng trong người như một cơn bốc hỏa

Các loại thức ăn cay nóng như: ớt, một vài loại thực phẩm đóng gói sẵn có thể tạo ra một sức nóng rất lớn, có thể làm giãn các mạch máu và kích thích các dây thần kinh. Một số người khi uống rượu, cũng có thể tạo ra cảm giác giống như bốc hỏa.

Ớt và các món ăn cay nóng khác có thể gây ra cơn bốc hỏa

Bốc hỏa do căng thẳng …

Khi bạn bị căng thẳng, lo lắng hoặc buồn rầu, cơ thể bạn sẽ tiết ra các hormone như epinephrine và norepinephrine. Các hormone này làm tăng lưu lượng máu và tạo ra cảm giác nóng khắp người. Trạng thái đỏ mặt, nóng bừng mặt cũng có thể là kết quả của rất nhiều các yếu tố, như căng thẳng, tổn thương tủy sống và chứng đau nửa đầu. Nóng bừng cũng có thể làm cho da chuyển sang màu đỏ và bạn sẽ có cảm giác rất nóng.

Khi bị căng thẳng, cơ thể sẽ tiết ra các hormone như epinephrine và norepinephrine gây ra cơn bốc hỏa

Mặt khác, nóng bừng có thể là phản ứng dị ứng của da với một số loại thực phẩm hoặc các tác nhân của môi trường như nhiệt độ, khói bụi, hóa chất…

Những rối loạn và bệnh lý gây bốc hỏa

Các cơn bừng bốc hỏa còn liên quan đến hormon. Các bác sỹ chuyên khoa cho rằng vùng dưới đồi là nguyên nhân chính của hiện tượng bốc hỏa, nó là một phần của não bộ có chức năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Sự suy giảm estrogen một cách tự nhiên ở phụ nữ lớn tuổi có thể làm cho vùng dưới đồi hoạt động kém hiệu quả. Rối loạn chức năng vùng dưới đồi có thể được điều trị bằng liệu pháp thay thế hormon.

Một số bệnh lý như: rối loạn tiêu hóa, chấn thương vùng đầu, rối loạn về gen…đều có thể dẫn đến bốc hỏa.

Bốc hỏa còn là triệu chứng của bệnh cường tuyến giáp. Đây là bệnh do tuyến giáp tăng hoạt động, thường xảy ra khi tuyến giáp sản xuất ra quá nhiều hormon thyroid.

Bốc hỏa còn là triệu chứng của bệnh cường tuyến giáp

Bệnh cường giáp thường kèm theo các triệu chứng khác, như sụt cân nhanh, thay đổi về nhu động ruột, rối loạn nhịp tim… Việc điều trị cường giáp thường phải căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh. Thông thường, các loại thuốc chẹn beta hoặc các loại thuốc dùng cho tuyến giáp được sử dụng để làm giảm các triệu chứng. Phẫu thuật có thể sẽ được chỉ định trong những trường hợp bệnh rất nặng, để loại bỏ vùng bị rối loạn hoạt động của tuyến giáp.

Như vậy tình trạng bốc hỏa sẽ xảy ra ở hai trường hợp: một liên quan đến tiền mãn kinh và mãn kinh và hai là các rối lọan bệnh lý không liên quan đến mãn kinh.

Tình trạng tiền mãn kinh và mãn kinh gây ra các cơn bừng bốc hỏa, thường xảy ra khi phụ nữ bước vào tuổi 40 đến 50 trong đó giai đoạn tiền mãn kinh có thể xảy ra trước mãn kinh thực sự 10 năm. Điều này có nghĩa là phụ nữ sẽ phải trải qua cảm giác bốc hỏa rất nhiều năm trước khi chu kỳ kinh nguyệt của họ hoàn toàn chấm dứt. Bác sỹ sẽ cân nhắc dựa vào các triệu chứng, tuổi tác, tiền sử gia đình và thói quen lối sống của bạn, để chẩn đoán và điều trị phù hợp.

Các bệnh lý và rối loạn khác gây ra các cơn bốc hỏa ở mọi độ tuổi của phụ nữ, bao gồm các trường hợp nói trên đây.

Vì vậy chị em phụ nữ cần ghi lại nhật ký bốc hỏa để giúp bác sỹ chẩn đoán đúng bệnh lý gây nên tình chứng bệnh này. Bạn nên ghi lại thật chi tiết mỗi lần bốc hỏa, bao gồm cả những gì bạn đã ăn trước khi bị bốc hỏa. Danh sách triệu chứng dạng như vậy có thể giúp xác định được những thói quen nào bạn nên thay đổi và cũng có thể giúp bạn tránh được các nguyên nhân và giảm các triệu chứng khó chịu.

Theo SKDS

Chị em thường nghĩ “bốc hỏa” là do mãn kinh ở phụ nữ. Nhưng trên thực tế, nhiều người chưa đến tuổi mãn kinh vẫn bị “bốc hỏa”. Vì sao vậy?

Do thuốc hoặc thực phẩm gây bốc hỏa

“Bốc hỏa” do nhiều nguyên nhân ngoài mãn kinh: nhiều chị em chưa đến tuổi tiền mãn kinh nhưng vẫn bị những cơn bừng “bốc hỏa” hành hạ.  Bạn sẽ bị cơn bốc hỏa khi thân nhiệt tăng cao, đắp chăn quá nóng, uống nước nóng, khi nhiệt độ phòng quá cao…

Cơn bừng bốc hỏa có thể là tác dụng không mong muốn của một số loại thuốc bạn dùng như: Raloxifene (Evista) là loại thuốc được kê cho người bị loãng xương; tamoxifen (Tamoxifen và Nolvadex) là loại thuốc dùng để điều trị ung thư vú; do tác dụng không mong muốn của hóa trị; tramadol, là thuốc giảm đau…Khi uống, các thuốc này có thể làm da bạn nóng bừng như bốc hỏa trong người, tuy các tác dụng này thường hiếm gặp.

Uống rượu gây nóng trong người như một cơn bốc hỏa

Các loại thức ăn cay nóng như: ớt, một vài loại thực phẩm đóng gói sẵn có thể tạo ra một sức nóng rất lớn, có thể làm giãn các mạch máu và kích thích các dây thần kinh. Một số người khi uống rượu, cũng có thể tạo ra cảm giác giống như bốc hỏa.

Ớt và các món ăn cay nóng khác có thể gây ra cơn bốc hỏa

Bốc hỏa do căng thẳng …

Khi bạn bị căng thẳng, lo lắng hoặc buồn rầu, cơ thể bạn sẽ tiết ra các hormone như epinephrine và norepinephrine. Các hormone này làm tăng lưu lượng máu và tạo ra cảm giác nóng khắp người. Trạng thái đỏ mặt, nóng bừng mặt cũng có thể là kết quả của rất nhiều các yếu tố, như căng thẳng, tổn thương tủy sống và chứng đau nửa đầu. Nóng bừng cũng có thể làm cho da chuyển sang màu đỏ và bạn sẽ có cảm giác rất nóng.

Khi bị căng thẳng, cơ thể sẽ tiết ra các hormone như epinephrine và norepinephrine gây ra cơn bốc hỏa

Mặt khác, nóng bừng có thể là phản ứng dị ứng của da với một số loại thực phẩm hoặc các tác nhân của môi trường như nhiệt độ, khói bụi, hóa chất…

Những rối loạn và bệnh lý gây bốc hỏa

Các cơn bừng bốc hỏa còn liên quan đến hormon. Các bác sỹ chuyên khoa cho rằng vùng dưới đồi là nguyên nhân chính của hiện tượng bốc hỏa, nó là một phần của não bộ có chức năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Sự suy giảm estrogen một cách tự nhiên ở phụ nữ lớn tuổi có thể làm cho vùng dưới đồi hoạt động kém hiệu quả. Rối loạn chức năng vùng dưới đồi có thể được điều trị bằng liệu pháp thay thế hormon.

Một số bệnh lý như: rối loạn tiêu hóa, chấn thương vùng đầu, rối loạn về gen…đều có thể dẫn đến bốc hỏa.

Bốc hỏa còn là triệu chứng của bệnh cường tuyến giáp. Đây là bệnh do tuyến giáp tăng hoạt động, thường xảy ra khi tuyến giáp sản xuất ra quá nhiều hormon thyroid.

Bốc hỏa còn là triệu chứng của bệnh cường tuyến giáp

Bệnh cường giáp thường kèm theo các triệu chứng khác, như sụt cân nhanh, thay đổi về nhu động ruột, rối loạn nhịp tim… Việc điều trị cường giáp thường phải căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh. Thông thường, các loại thuốc chẹn beta hoặc các loại thuốc dùng cho tuyến giáp được sử dụng để làm giảm các triệu chứng. Phẫu thuật có thể sẽ được chỉ định trong những trường hợp bệnh rất nặng, để loại bỏ vùng bị rối loạn hoạt động của tuyến giáp.

Như vậy tình trạng bốc hỏa sẽ xảy ra ở hai trường hợp: một liên quan đến tiền mãn kinh và mãn kinh và hai là các rối lọan bệnh lý không liên quan đến mãn kinh.

Tình trạng tiền mãn kinh và mãn kinh gây ra các cơn bừng bốc hỏa, thường xảy ra khi phụ nữ bước vào tuổi 40 đến 50 trong đó giai đoạn tiền mãn kinh có thể xảy ra trước mãn kinh thực sự 10 năm. Điều này có nghĩa là phụ nữ sẽ phải trải qua cảm giác bốc hỏa rất nhiều năm trước khi chu kỳ kinh nguyệt của họ hoàn toàn chấm dứt. Bác sỹ sẽ cân nhắc dựa vào các triệu chứng, tuổi tác, tiền sử gia đình và thói quen lối sống của bạn, để chẩn đoán và điều trị phù hợp.

Các bệnh lý và rối loạn khác gây ra các cơn bốc hỏa ở mọi độ tuổi của phụ nữ, bao gồm các trường hợp nói trên đây.

Vì vậy chị em phụ nữ cần ghi lại nhật ký bốc hỏa để giúp bác sỹ chẩn đoán đúng bệnh lý gây nên tình chứng bệnh này. Bạn nên ghi lại thật chi tiết mỗi lần bốc hỏa, bao gồm cả những gì bạn đã ăn trước khi bị bốc hỏa. Danh sách triệu chứng dạng như vậy có thể giúp xác định được những thói quen nào bạn nên thay đổi và cũng có thể giúp bạn tránh được các nguyên nhân và giảm các triệu chứng khó chịu.

Theo SKDS

Biến đổi khí hậu làm cho thời tiết càng trở nên gay gắt: trời nóng hơn và thay đổi nhanh hơn. Với người bình thường đã cảm thấy khó thích nghi và khó chịu. Với người bệnh đái tháo đường, thời tiết quá nóng bức còn thêm nguy cơ tăng hoặc giảm đường máu. Do thời tiết nóng bức làm mất nước qua mồ hôi và hơi thở khiến cho máu bị cô đặc và do vậy đường máu tăng cao. Nếu bạn dùng nhiều nước ép quả hoặc nước ngọt giải khát thì đường máu còn có thể tăng rất cao.

Người bệnh đái tháo đường cần phải uống nước đều đặn cả ngày. Chủ yếu là nước lọc và hãy uống ngay cả khi chưa cảm thấy khát. Mặt khác, người bệnh đái tháo đường đồng thời đối diện với nguy cơ bị hạ đường máu khi trời quá nóng bức. Do thời tiết nóng làm gia tăng chuyển hóa, với những người tiêm insuin thì insulin tại nơi tiêm có xu hướng hấp thu nhanh hơn (do mạch máu dưới da giãn hơn) nên đường máu có thể thấp hơn bình thường. Thời tiết quá nóng cũng làm cho chúng ta mệt mỏi, chán ăn. Vì vậy, nguy cơ hạ đường máu cũng có thể gia tăng.

Khi trời nóng, người cao tuổi nên kiểm tra đường huyết thường xuyên. Ảnh: TM

Khi trời nóng, người cao tuổi nên kiểm tra đường huyết thường xuyên.

Các triệu chứng hạ đường máu vào những ngày nóng nực có thể khó nhận biết hơn bình thường: dấu hiệu vã mồ hôi hoặc cảm giác mệt mỏi được cho là do trời nóng cũng có thể là triệu chứng của hạ đường máu.

Bạn cần phải thử đường máu thường xuyên hơn nếu đi du lịch trong những ngày hè. Liều insulin có thể cần phải thay đổi nếu bạn từng có những rắc rối liên quan đến thời tiết nóng bức. Hãy trao đổi với bác sĩ về chủ đề đó trước khi khởi hành.

Theo SKDS

Thời tiết nóng nực có thể ảnh hưởng đến đường máu theo cả hai chiều hướng: tăng và hạ đường máu.

Biến đổi khí hậu làm cho thời tiết càng trở nên gay gắt: trời nóng hơn và thay đổi nhanh hơn. Với người bình thường đã cảm thấy khó thích nghi và khó chịu. Với người bệnh đái tháo đường, thời tiết quá nóng bức còn thêm nguy cơ tăng hoặc giảm đường máu. Do thời tiết nóng bức làm mất nước qua mồ hôi và hơi thở khiến cho máu bị cô đặc và do vậy đường máu tăng cao. Nếu bạn dùng nhiều nước ép quả hoặc nước ngọt giải khát thì đường máu còn có thể tăng rất cao.

Người bệnh đái tháo đường cần phải uống nước đều đặn cả ngày. Chủ yếu là nước lọc và hãy uống ngay cả khi chưa cảm thấy khát. Mặt khác, người bệnh đái tháo đường đồng thời đối diện với nguy cơ bị hạ đường máu khi trời quá nóng bức. Do thời tiết nóng làm gia tăng chuyển hóa, với những người tiêm insuin thì insulin tại nơi tiêm có xu hướng hấp thu nhanh hơn (do mạch máu dưới da giãn hơn) nên đường máu có thể thấp hơn bình thường. Thời tiết quá nóng cũng làm cho chúng ta mệt mỏi, chán ăn. Vì vậy, nguy cơ hạ đường máu cũng có thể gia tăng.

Khi trời nóng, người cao tuổi nên kiểm tra đường huyết thường xuyên. Ảnh: TM

Khi trời nóng, người cao tuổi nên kiểm tra đường huyết thường xuyên.

Các triệu chứng hạ đường máu vào những ngày nóng nực có thể khó nhận biết hơn bình thường: dấu hiệu vã mồ hôi hoặc cảm giác mệt mỏi được cho là do trời nóng cũng có thể là triệu chứng của hạ đường máu.

Bạn cần phải thử đường máu thường xuyên hơn nếu đi du lịch trong những ngày hè. Liều insulin có thể cần phải thay đổi nếu bạn từng có những rắc rối liên quan đến thời tiết nóng bức. Hãy trao đổi với bác sĩ về chủ đề đó trước khi khởi hành.

Theo SKDS

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.